Câu 56.

 Câu 56. Bản án sơ thẩm số XXX của Toà án nhân dân tỉnh A có nội dung tuyên buộc ông M và bà N phải liên đới trả cho Ngân hàng K số tiền 4 tỷ đồng. Để đảm bảo thi hành án, Bản án tuyên kê biên, xử lý tài sản là Quyền sử dụng đất của ông M tại tỉnh A; kê biên, xử lý tài sản là Quyền sử dụng đất của bà N tại tỉnh B để đảm bảo thi hành án. Cơ quan THADS tỉnh A tổ chức thi hành. Kết quả xác minh cho thấy, Quyền sử dụng đất của ông M tại tỉnh A có giá trị khoảng 5 tỷ đồng; quyền sử dụng đất của bà N có giá trị khoảng 4 tỷ đồng. Cơ quan THADS tỉnh A đang thực hiện xử lý tài sản của ông M. Tuy nhiên, quá trình xử lý, nhận được Thông báo thụ lý của Toà án về việc giải quyết tranh chấp quyền sở hữu quyền sử dụng đất giữa ông M và bà H. Do tài sản bị Toà án thụ lý giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu, cơ quan THADS tỉnh A đã dừng việc xử lý tài sản. Đồng thời, thực hiện uỷ thác cho cơ quan THADS tỉnh B xử lý tài sản của bà N.

Hỏi: Cơ quan THADS tỉnh A thực hiện uỷ thác xử lý tài sản trong trường hợp này có phù hợp với quy định pháp luật hay không?

Đáp:

Theo quy định tại khoản 2 Điều 50 Luật THADS năm 2025 thì: 

“2. Trường hợp thi hành nghĩa vụ liên đới, cơ quan thi hành án dân sự có thể ủy thác xử lý tài sản cho cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố khác nơi có tài sản khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Tài sản trên địa bàn tỉnh, thành phố nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở không đủ để thi hành án;

b) Tài sản trên địa bàn tỉnh, thành phố nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở đã được Tòa án, cơ quan có thẩm quyền thụ lý để giải quyết yêu cầu xác định, phân chia, giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất, trừ trường hợp tài sản đó đã được bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật tuyên kê biên, xử lý, công nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng mà người phải thi hành án không có tài sản khác trên địa bàn tỉnh, thành phố đó để thi hành án.”  

Phân tích dữ liệu câu hỏi đưa ra, đây là khoản thi hành nghĩa vụ liên đới của ông M và bà N, các tài sản của ông M, bà N nằm ở 02 địa phương khác nhau, cơ quan THADS tỉnh A có thể thực hiện uỷ thác cho cơ quan THADS tỉnh B xử lý tài sản của bà N khi thuộc một trong 2 trường hợp:

- Trường hợp 01: Tài sản của ông M trên địa bàn không đủ để thi hành án (điểm a khoản 2 Điều 50). Trường hợp này, tài sản của ông M có giá trị khoảng 5 tỷ, đã đủ để thi hành án, do đó, đây không phải là căn cứ để thực hiện uỷ thác xử lý tài sản.

- Trường hợp 02: Tài sản của ông M trên địa bàn đã bị Toà án thụ lý để giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu, quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, tại điểm b khoản 2 Điều 50 Luật THADS năm 2025 đã đưa ra quy định loại trừ, trong trường hợp có tranh chấp về quyền sở hữu, quyền sử dụng đất nhưng nếu tài sản đó đã được bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật tuyên kê biên, xử lý để đảm bảo thi hành án thì cơ quan THADS sẽ không thực hiện dừng việc xử lý tài sản đó. Trường hợp này, tài sản của ông M đã được bản án tuyên kê biên, xử lý để đảm bảo thi hành án. Do đó, trường hợp này cũng không đủ căn cứ để thực hiện uỷ thác xử lý tài sản.

Như vậy, việc cơ quan THADS tỉnh A uỷ thác cho cơ quan THADS tỉnh B xử lý tài sản của bà N là chưa phù hợp với quy định pháp luật.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét