Câu 3.

 Câu 3. Bản án số XXX của Tòa án nhân dân tỉnh Y có nội dung: Buộc Công ty TNHH A phải trả cho Ngân hàng V số tiền 15.000.000.000 đồng. Trường hợp Công ty TNHH A không trả thì Ngân hàng V có quyền yêu cầu Cơ quan THADS phát mại tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và các tài sản trên đất của Ông B để đảm bảo việc thi hành án. Trên cơ sở yêu cầu thi hành án của Ngân hàng V, cơ quan THADS đã thực hiện kê biên, xử lý tài sản của ông B để bảo đảm thi hành án. Trước khi mở cuộc đấu giá 01 ngày làm việc, Ông B có đơn đề nghị nhận lại tài sản và cam kết thanh toán các nghĩa vụ thi hành án và chi phí phát sinh (nếu có).

  • Hỏi: Ông B có phải là người phải thi hành án trong vụ việc trên và có quyền nhận lại tài sản thi hành án hay không?

Đáp:

Tại khoản 3 Điều 3 Luật THADS năm 2025 quy định: “Người phải thi hành án là cơ quan, tổ chức, cá nhân phải thực hiện nghĩa vụ trong bản án, quyết định được thi hành, bao gồm cả người có tài sản bảo đảm trong phạm vi nghĩa vụ mà họ bảo đảm.”

Theo quy định tại khoản 4 Điều 83 Luật THADS năm 2025 thì: 

“4. Trước khi mở cuộc đấu giá 01 ngày làm việc, người phải thi hành án nộp đủ tiền để thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá thì được nhận lại tài sản thi hành án.”

Như vậy, trong trường hợp này, Ông B được xác định là người phải thi hành án trong phạm vi nghĩa vụ mà ông B bảo đảm cho Công ty TNHH A để thi hành nghĩa vụ với Ngân hàng V. Do đó, khi Ông B đề nghị nhận lại tài sảnnộp đủ tiền để thi hành ánthanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá thì được nhận lại tài sản thi hành án.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét