NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[2] Năm 1990, Trường Đảng N khu vực I phân cho bà Trần Thị Bích Đ diện tích 122m2 đất, thực tế sử dụng 144,lm2 đất tại số 15, đường L, xã Đ, huyện T (nay là số 50 L, phường Đ, quận B), thành phố Hà Nội. Nhà, công trình trên đất do ông Mai Văn C, bà Trần Thị Bích Đ làm năm 1991. Khối tài sản này có trong thời kỳ hôn nhân nên theo Luật Hôn nhân và gia đình được xác định đây là tài sản chung của vợ chồng ông C, bà Bích Đ.
[3] Cùng năm 1990, Trường Đảng N khu vực I phân cho bà Kim Thị Hồng Đ diện tích 85m2 đất tại số 9 đường L, xã N) huyện T (nay là số 50 L, phường Đ, quận B), thành phố Hà Nội. Sau khi nhận đất, gia đình bà Kim Thị Hồng Đ làm nhà cấp 4 và công trình phụ khác. Cuối năm 1993, bà Kim Thị Hồng Đ, ông Lê T nhượng lại ½ diện tích đất được cấp trên có nhà cấp 4 khoảng hơn 20m2 và khu phụ cho ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị Bích V, trên giấy tờ thì diện tích 42,5m2 , đo thực tế là 45,13m2 . Do ông C không đồng ý định giá tài sản nên Hội đồng định giá đã quan sát và căn cứ vào số đo diện tích nhà đất tại Biên bản định giá ngày 14-8-2009 để định giá là phù hợp.
[4] Ngày 23/12/1994, ông B, bà V đã dùng nhà đất ở số 9 đường L để chuyển đổi, mua bán nhà đất tại số 15 đường L với bà Trần Thị Bích Đ. Sau khi mua bán chuyển đổi xong, thì ông B, bà V, bà Bích Đ, ông Lê T, bà Hồng Đ gặp nhau thoả thuận vì bà Bích Đ, bà Hồng Đ cùng cơ quan, nên ông Lê T, bà Hồng Đ viết lại giấy chuyển nhượng diện tích đất, nhà trên mang tên bà Bích Đ cho tiện việc xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
[5] Nhà đất tại số 9 và số 15 đường L, xã N, huyện T (nay là số 50 và 54 L, phường Đ, quận B), thành phố Hà Nội liên quan đến hợp đồng chuyển đổi, mua bán ngày 23-12-1994 giữa bà Bích Đ với ông B, bà V. Vì vậy, phải xem xét giải quyết cả hai khối tài sản trên trong cùng vụ án ông C đề nghị không giải quyết nhà số 9 đường L trong vụ án này là không có cơ sở.
[6] Ông Lê T, bà Hồng Đ xác định đã bán nhà đất cho ông B, bà V, không có tranh chấp gì, không yêu cầu giải quyết nên không xét.
[7] Ông C cho rằng vợ ông là bà Trần Thị Bích Đ đã mua nhà đất tại số 9 đường L (nay là số 50) của vợ chồng bà Kim Thị Hồng Đ và ông Lê T, không phải nhận chuyển đổi của ông B bà V, thấy: Vợ chồng ông B bà V chuyển đến ở số nhà 54 L, phường Đ, quận B (cũ là số 15 đường L, xã N, huyện T) là do có việc chuyển đổi, nhượng giữa bà Bích Đ với vợ chồng ông B bà V. Giả sử có việc mua bán nhà đất giữa bà Bích Đ với vợ chồng ông Lê T và bà Hồng Đ như ông C trình bày, thì không có lý do gì vợ chồng ông B bà V vào ở nhà đất của ông bà đã mua được. Ông C chỉ căn cứ vào Giấy chuyển nhượng nhà đất ngày 4-12-1993 giữa bà Bích Đ với vợ chồng bà Hồng Đ và ông Lê T (có xác nhận của Trường Đại học Tài chính kế toán) để khẳng định vợ ông đã mua diện tích nhà đất này là chưa đủ cơ sở. Việc bà Bích Đ vợ ông C chuyển đổi bán nhà đất với vợ chồng ông B bà V đã được ông C khẳng định rất rõ tại đơn khởi kiện ngày 10 tháng 8 năm 2004 do chính ông C gửi đến Tòa án nhân dân huyện Từ Liêm (BL 13). Cũng theo các tài liệu có trong hồ sơ và tại phiên tòa, vợ chồng ông Lê T, bà Hồng Đ đều khẳng định sở dĩ có giấy chuyển nhượng nhà đất giữa bà Bích Đ với vợ chồng ông là do sau khi có việc chuyển đổi, chuyển nhượng nhà đất giữa bà Bích Đ với vợ chồng bà V ông B, vì là hàng xóm, cùng công tác ở cơ quan, nên các bên thống nhất tạo điều kiện thuận lợi cho nhau để sau này làm sổ đỏ.
[8] Tại phiên tòa phúc thẩm, người làm chứng là ông Nguyễn Mạnh T - Nguyên Chánh Văn phòng Học viện Tài chính khẳng định: Năm 1990 Trường Tài chính về tiếp thu Trường Kiểm tra Trung ương, ông là Phó Chánh Văn phòng, việc cán bộ được phân đất thế nào ông nắm rất rõ. Thời điểm đó nhà trường quy định là không được bán nhà đất, nên việc ông Lê T, bà Kim Hồng Đ bán nhà đất cho vợ chồng ông B, bà V, sau đó vợ chồng ông B, bà V chuyển nhượng, chuyển đổi nhà đất với bà Bích Đ có đến trình bày với ông nên ông nắm được và là đúng sự thật. Việc ông T, bà Kim Thị Hồng Đ viết hai giấy chuyển nhượng là do các bên thỏa thuận để bà Bích Đ đi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được thuận lợi. Sau khi chuyển đổi, chuyển nhượng, các bên đã ở ổn định, chỉ khi ông C về nước vài năm thì mới xảy ra tranh chấp. Như vậy, có đủ căn cứ khẳng định hợp đồng chuyển nhượng ngày 4-12-1993 giữa bà Bích Đ với vợ chồng ông Lê T bà Hồng Đ là hợp đồng giả tạo, nhằm che đậy giao dịch khác.
[9] Xét giao dịch chuyển nhượng, chuyển đổi quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất giữa bà Trần Thị Bích Đ với ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị Bích V đối với nhà đất tại số 9 và số 15 đường L, xã N, huyện T (nay là số 50 và 54 L, phường Đ, quận B), thành phố Hà Nội thấy:
- Bà Trần Thị Bích Đ chuyển quyền sử dụng cho ông Nguyễn Văn B nhà đất tại số 15 L (nay là số 50 L) do bà được phân để lấy mảnh đất tại số 9 L (nay là số 54 L) của ông B, bà V (nhận chuyển nhượng từ ông Lê T, bà Kim Thị Hồng Đ). Sau khi chuyển đổi bằng diện tích đất, ông B phải trả bà Bích Đ 1.500.000đ/m2 đối với diện tích đất lớn hơn, trong thời gian từ ngày 23-12-1994 đến tháng 7-1995. Bà Bích Đ sau khi nhận đủ số tiền trên phải giao lại toàn bộ diện tích đất và nhà ở cho ông B chậm nhất là ngày 01-7-1995. Sau khi nhận đủ tiền, bà Bích Đ đã giao toàn bộ nhà đất cho vợ chồng ông B bà V, các bên đã ăn ở ổn định từ năm 1995 đến nay. Việc bà Bích Đ chuyển đổi nhà đất với vợ chồng ông B bà V diễn ra trong thời gian ông C không có mặt ở nhà, nhưng vợ chồng bà Đ ông C vẫn sống với nhau bình thường.
- Tại bản tự khai ngày 06 tháng 5 năm 2005 (BL số 27) ông C khai: Tuy làm ăn ở nước ngoài nhưng tôi vẫn thường xuyên thông tin về trong nước lâu lâu lại gửi ít tiền về để chu cấp cho các con tôi ăn học. Đến năm 1998 thì tôi nghe tin là vợ tôi ở nhà đã đem bán nhà đất cho người khác. Việc bà Bích Đ phải bồi thường tiền cho cơ quan là có thật (Đơn tường trình ngày 19-3-2006 của bà Trần Thị Bích Đ), nên việc bà Đ cam kết trong giấy chuyển đổi đất đã được trao đổi với ông C để giải quyết công việc gia đình là có cơ sở. Thực tế từ năm 2001, ông C về nước và ở tại nhà đất đã chuyển đổi, ông C không thể không biết việc hai gia đình chuyển nhượng, chuyển đổi nhà đất cho nhau, nhưng cũng không có ý kiến gì.
[10] Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa hai bên được xác lập sau ngày 15-10-1993, diện tích đất chuyển nhượng chưa được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 1993 và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không có chứng nhận của Công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền. Nhưng sau khi thực hiện hợp đồng chuyển nhượng, bên nhận chuyển nhượng đã làm nhà kiên cố, bên chuyển nhượng không phản đối và cũng không bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo các quy định của Nhà nước về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai. Căn cứ điểm B3 tiểu mục 2.3 mục 2 Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10-8-2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc gỉải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy không có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông C, cần phải sửa bản án sơ thẩm theo hướng công nhận hai hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã xác lập. Việc Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng ông C không ký vào hợp đồng chuyển đổi nhà đất với vợ chồng ông B bà V, nên xác định hợp đồng vô hiệu là không phù hợp với pháp luật. Kháng cáo của ông C không có căn cứ nên không được chấp nhận, kháng cáo của bà V có căn cứ nên được chấp nhận.
[11] Về án phí:
- [12] Ông C yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng nhà đất tại số 15 đường L, xã N, huyện T (nay là số 50 L, phường Đ, quận B), thành phố Hà Nội. Theo Biên bản định giá tài sản ngày 04-8-2015, tổng giá trị quyền sử dụng đất và giá trị xây dựng là 11.531.243.005 đồng. Do yêu cầu khởi kiện của ông C không được chấp nhận, nên ông C phải chịu 119.531.243 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- [13] Do sửa bản án sơ thẩm, nên ông C không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
- [14] Xét hợp đồng chuyển nhượng nhà đất ngày 4-12-1993 giữa vợ chồng ông Lê T, bà Kim Thị Hồng Đ với bà Trần Thị Bích Đ là hợp đồng giả tạo, che đậy hợp đồng thực tế là hợp đồng chuyển nhượng nhà đất giữa vợ chồng ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị Bích V với vợ chồng ông Lê T, bà Kim Thị Hồng Đ. Trong vụ án này, các đương sự không yêu cầu xem xét hợp đồng trên, nhưng để giải quyết triệt để vụ án, thấy cần thiết tuyên hủy hợp đồng chuyển nhượng nhà đất ngày 4-12-1993 giữa vợ chồng ông Lê T, bà Kim Thị Hồng Đ với bà Trần Thị Bích Đ.
- [15] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên, Áp dụng khoản 2 Điều 275 Bộ luật Tố tụng dân sự,
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét