Mục 1
Câu 13. Hệ thống thi hành án dân sự bao gồm các cơ quan nào?
Đáp:
1. Theo quy
định tại Điều 17 Luật THADS năm 2025 thì hệ thống thi hành án
dân sự bao gồm:
- Cơ quan quản
lý thi hành án dân sự bao gồm: cơ quan quản lý thi hành án
dân sự thuộc
Bộ Tư pháp, cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng.
- Cơ quan
thi hành án dân sự bao gồm: cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành
phố; cơ quan
thi hành án quân khu và tương đương (sau đây gọi là cơ quan thi hành
án cấp quân
khu).
2. Hệ thống
thi hành án dân sự được tổ chức thống nhất từ Trung ương đến địa
phương theo
quy định của Luật THADS năm 2025 và quy định của pháp luật có liên
quan.
Câu 14. Cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố có nhiệm vụ, quyền hạn nào?
Đáp:
Tại Điều 20
Luật THADS năm 2025 quy định cơ quan THADS tỉnh, thành
phố có những
nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể như sau:
- Quản lý,
chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ, kiểm tra, đôn đốc công tác thi hành
án dân sự
trên địa bàn tỉnh, thành phố; bảo đảm việc áp dụng thống nhất các quy định
của pháp luật
trong hoạt động thi hành án dân sự.
- Trực tiếp
tổ chức thi hành bản án, quyết định quy định tại khoản 1 Điều 32
của Luật
THADS năm 2025.
- Lập hồ sơ
đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự; phối hợp với
cơ quan có
thẩm quyền trong việc lập hồ sơ đề nghị xét đặc xá, xét giảm thời hạn
chấp hành án
phạt tù cho người phải thi hành án.
- Giải quyết
khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự thuộc thẩm quyền theo quy
định của Luật
này.
- Thực hiện
quản lý công chức, cơ sở vật chất, kinh phí, phương tiện hoạt động
của cơ quan
thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật và hướng dẫn, chỉ đạo
của cơ quan
quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp.
- Giúp Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện trách nhiệm, nhiệm vụ, quyền hạn
về thi hành
án dân sự theo quy định của pháp luật.
- Báo cáo Hội
đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về kết quả thi hành
án dân sự;
việc sửa chữa, bổ sung, giải thích bản án, quyết định, giải quyết kiến nghị
của Tòa án;
công tác phối hợp và các nội dung khác trong hoạt động thi hành án dân
sự theo quy
định của pháp luật; báo cáo Tòa án về kết quả thi hành bản án, quyết
định khi có
yêu cầu.
- Tạo lập, cập
nhật cơ sở dữ liệu về thi hành án dân sự theo quy định của pháp
luật và phân
cấp của cơ quan có thẩm quyền.
- Được truy
cập, truy xuất dữ liệu, khai thác, sử dụng thông tin từ Cơ sở dữ liệu
tổng hợp quốc
gia, cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, cơ sở dữ liệu
khác theo
quy định của pháp luật để phục vụ hoạt động thi hành án dân sự.
- Phối hợp với
cơ quan thi hành án dân sự khác, văn phòng thi hành án dân sự
và cơ quan,
tổ chức, cá nhân có liên quan theo quy định của pháp luật.
- Tổng kết
thực tiễn thi hành án dân sự; thống kê, báo cáo công tác tổ chức,
hoạt động
thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của cơ quan
quản lý thi
hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp.
- Nhiệm vụ,
quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.
So với Luật
THADS năm 2008, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan THADS
tỉnh, thành
phố được sửa đổi, bổ sung như sau:
- Bổ sung
quy định cơ quan THADS tỉnh, thành phố báo cáo Hội đồng nhân
dân, Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh về “việc sửa chữa, bổ sung, giải thích bản án, quyết
định, giải
quyết kiến nghị của Tòa án; công tác phối hợp và các nội dung khác trong
hoạt động
thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật” nhằm tạo thuận lợi cho
công tác thi
hành án trong trường hợp phát sinh vướng mắc trong công tác phối hợp
giữa các cơ
quan có liên quan.
- Bổ sung 02
nhiệm vụ, quyền hạn: “Tạo lập, cập nhật cơ sở dữ liệu về thi hành
án dân sự
theo quy định của pháp luật và phân cấp của cơ quan có thẩm quyền.” và
“Được truy cập,
truy xuất dữ liệu, khai thác, sử dụng thông tin từ Cơ sở dữ liệu tổng
hợp quốc
gia, cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, cơ sở dữ liệu khác
theo quy định
của pháp luật để phục vụ hoạt động thi hành án dân sự.” để phù hợp với
việc chuyển
đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác THADS quy định tại
Điều 6 Luật
THADS năm 2025.
- Bổ sung
nhiệm vụ, quyền hạn “Phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự khác,
văn phòng
thi hành án dân sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan theo quy
định của
pháp luật.”. Đây là quy định thể chế hóa tại Luật dựa trên thực tiễn công tác
phối hợp giữa
các cơ quan THADS trong hệ thống để tổ chức hiệu quả các bản án,
21
quyết định.
Câu 15. Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có các nhiệm vụ, quyền hạn nào?
Đáp:
1. Tại khoản
2 Điều 22 Luật THADS năm 2025 quy định Thủ trưởng cơ quan
thi hành án
dân sự có các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể như sau:
- Ra quyết định
thi hành án và các quyết định, văn bản khác về thi hành án
theo thẩm
quyền;
- Quản lý,
chỉ đạo, kiểm tra hoạt động thi hành án dân sự của cơ quan thi hành
án dân sự;
- Yêu cầu,
kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện các yêu cầu, kiến
nghị hoặc phối
hợp trong hoạt động thi hành án dân sự;
- Đề nghị cơ
quan đã ra bản án, quyết định sửa chữa, bổ sung bản án, quyết
định khi
phát hiện lỗi rõ ràng về chính tả, về số liệu do nhầm lẫn hoặc tính toán sai,
giải thích
những điểm chưa rõ hoặc không phù hợp với thực tế trong bản án, quyết
định đó để
thi hành. Trường hợp nhận thấy việc sửa chữa, bổ sung, giải thích bản án,
quyết định của
Tòa án chưa rõ, khó thi hành thì có văn bản đề nghị Tòa án nhân dân
cấp trên trực
tiếp xem xét giải quyết. Tòa án nhân dân cấp trên trực tiếp yêu cầu Tòa
án đã ra bản
án, quyết định có văn bản trả lời;
- Kiến nghị
người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc
tái thẩm đối
với bản án, quyết định hoặc kiến nghị cơ quan, người có thẩm quyền để
kiến nghị
quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nếu nhận
thấy có căn
cứ theo quy định của pháp luật;
- Giải quyết
và trả lời kháng nghị, yêu cầu, kiến nghị của Viện kiểm sát; kiến
nghị cơ quan
nhà nước có thẩm quyền xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính
hoặc truy cứu
trách nhiệm hình sự đối với người vi phạm;
- Giải quyết
khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự;
- Tổ chức thực
hiện báo cáo, thống kê thi hành án dân sự;
- Xử phạt vi
phạm hành chính theo thẩm quyền;
- Khi trực
tiếp tổ chức thi hành án, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự thực
hiện nhiệm vụ,
quyền hạn của Chấp hành viên quy định tại Điều 25 của Luật này;
- Thủ trưởng
cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố điều động, hướng dẫn
chuyên môn,
nghiệp vụ, chỉ đạo, kiểm tra công tác thi hành án đối với Chấp hành
viên, công
chức cơ quan thi hành án dân sự; thực hiện những việc khác được phân
cấp, phân
quyền theo quy định của pháp luật;
22
- Thủ trưởng
cơ quan thi hành án cấp quân khu hướng dẫn chuyên môn, nghiệp
vụ, chỉ đạo,
kiểm tra công tác thi hành án đối với Chấp hành viên, người làm công
tác thi hành
án thuộc quyền quản lý; thực hiện những việc khác được phân cấp, phân
quyền theo
quy định của pháp luật;
- Nhiệm vụ,
quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.
So với Luật
THADS năm 2008, nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trưởng cơ
quan THADS tại
Luật THADS năm 2025 có những nội dung sửa đổi, bổ sung
như sau:
- Bên cạnh
quyền hạn “Ra quyết định thi hành án” thì đã bổ sung Thủ trưởng
có quyền hạn
“Ra các quyết định, văn bản khác về thi hành án theo thẩm quyền”.
Đây là nội
dung bổ sung phù hợp với các quy định về thẩm quyền ra các quyết định,
văn bản về
thi hành án trong quá trình tổ chức thi hành án tại Luật THADS năm
2025.
- Bổ sung
nhiệm vụ, quyền hạn thực hiện “kiểm tra” hoạt động THADS của
cơ quan
THADS. Đây là quy định đảm bảo công tác quản lý của Thủ trưởng đối với
hoạt động
THADS cơ quan mình.
- Quy định
rõ hơn về quyền đề nghị cơ quan đã ra bản án, quyết định thực hiện
“sửa chữa, bổ
sung bản án quyết định” khi khi phát hiện lỗi rõ ràng về chính tả, về
số liệu do
nhầm lẫn hoặc tính toán sai, giải thích những điểm chưa rõ hoặc không
phù hợp với
thực tế trong bản án, quyết định đó để thi hành,...
- Quy định về
nhiệm vụ, quyền hạn trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về
THADS.
- Quy định
Thủ trưởng có nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên khi “trực
tiếp tổ chức
thi hành án”.
2. Tại khoản
3 Điều 22 Luật THADS năm 2025 quy định Phó Thủ trưởng cơ
quan thi
hành án dân sự có các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể như sau: Phó Thủ trưởng
cơ quan thi
hành án dân sự thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân công hoặc
ủy quyền của
Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự và chịu trách nhiệm trong phạm
vi công việc
được giao.
3. Bên cạnh
đó, Luật THADS năm 2025 quy định Thủ trưởng cơ quan THADS
có thể phân
công, ủy quyền cho người đứng đầu các đơn vị quy định tại khoản 3 Điều
19 của Luật
này thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của mình, trừ trường hợp không
được ủy quyền
theo quy định của pháp luật.
Thủ trưởng
cơ quan thi hành án dân sự chịu trách nhiệm trước pháp luật về
tính hợp
pháp của việc phân công, ủy quyền và kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền
hạn mà mình
phân công, ủy quyền, trừ trường hợp người được phân công, ủy quyền
thực hiện
không đúng nội dung, phạm vi, thời hạn đã được phân công, ủy quyền.
Người được
phân công, ủy quyền phải thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn
đã được ủy
quyền và chịu trách nhiệm trước Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự
về kết quả
thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân công, ủy quyền.
Câu 16. Chấp hành viên trưởng là một trong các ngạch của chức danh Chấp hành viên.
Hỏi. Khẳng định trên đúng hay sai? Tại sao cần có quy định về chức danh Chấp hành viên trưởng?
Đáp:
1. Khẳng định
nêu trên là SAI, vì:
- Tại khoản
1 Điều 23 Luật THADS năm 2025 quy định: Chấp hành viên có
ba ngạch là Chấp hành viên sơ cấp, Chấp hành viên trung cấp và Chấp hành viên cao cấp.
- Để thực hiện
mục tiêu của Đề án “Tiếp tục sắp xếp, tinh gọn bộ máy hệ thống
THADS bảo đảm
hoạt động hiệu lực, hiệu quả” là nhằm bảo đảm tập trung nguồn
lực cho các
Phòng THADS khu vực cho công tác tổ chức thi hành án; cơ quan
THADS tỉnh,
thành phố quản lý, chỉ đạo chung, tập trung, thống nhất trong toàn tỉnh,
thành phố. Đồng
thời, đảm bảo hiệu lực, hiệu quả hoạt động THADS của các Phòng
THADS khu vực,
tại khoản 2 Điều 23 Luật THADS năm 2025 đã bổ sung chức danh
Chấp hành
viên trưởng, cụ thể:
“2. Trưởng
phòng Phòng Thi hành án dân sự khu vực đồng thời là Chấp hành
viên trưởng.
Chấp hành
viên trưởng thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành
viên; hướng
dẫn, chỉ đạo hoạt động tổ chức thi hành án của Chấp hành viên Phòng
Thi hành án
dân sự khu vực và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo phân
công, ủy quyền
của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự.
Chấp hành
viên trưởng chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước Thủ trưởng
cơ quan thi
hành án dân sự về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao.”
Đồng thời, tại
điểm b khoản 2 Điều 24 Luật THADS quy định người được bổ
nhiệm làm Chấp
hành viên trung cấp phải đáp ứng điều kiện, tiêu chuẩn: “b) Chấp
hành viên sơ
cấp được bổ nhiệm Phó Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Trưởng
phòng Phòng
Thi hành án dân sự khu vực, Trưởng phòng Phòng Nghiệp vụ và tổ
chức thi
hành án dân sự.”
Như vậy, Chấp
hành viên trưởng là chức danh tư pháp được giao cho người
đứng đầu
Phòng THADS khu vực, giữ ngạch Chấp hành viên trung cấp trở lên.
2. Luật
THADS năm 2025 quy định về chức danh Chấp hành viên trưởng vì
những lý do
sau đây:
Thứ nhất, Chấp
hành viên trưởng là chức danh tư pháp được giao cho người
đứng đầu
Phòng THADS khu vực, giữ ngạch Chấp hành viên trung cấp trở lên, có
các nhiệm vụ
quyền hạn thực hiện một số nhiệm vụ quyền hạn theo ủy quyền, phân
công của Thủ
trưởng của cơ quan THADS; phân công nhiệm vụ tổ chức thi hành án
cho các Chấp
hành viên thuộc Phòng THADS khu vực,..
Thứ hai,
theo quy định của Luật THADS, Chấp hành viên là chức danh tư
pháp, do Nhà
nước bổ nhiệm để tổ chức thi hành án và chịu trách nhiệm về các hoạt
động THADS.
Bên cạnh đó, THADS hiện được xác định là hoạt động tư pháp, có
tính độc lập
tương đối, khác với các hoạt động hành chính, chuyên môn khác. Trưởng
phòng THADS
là chức danh quản lý, lãnh đạo về hành chính, không có chức năng
chỉ đạo các
hoạt động tư pháp.
Do đó, cần
có người chịu trách nhiệm về chuyên môn và chỉ đạo chuyên môn
đối với hoạt
động THADS của Chấp hành viên. Chức danh Chấp hành viên trưởng,
Trưởng Phòng
THADS khu vực là “cánh tay nối dài” của Thủ trưởng cơ quan
THADS trong
điều kiện số lượng vụ việc lớn, địa bàn rộng như hiện nay sẽ đảm bảo
tính nhanh
chóng, kịp thời trong giải quyết việc THADS cho người dân và doanh
nghiệp.
Mặt khác, chức
danh này còn đảm bảo sự nhanh chóng, kịp thời, tương xứng
trong phối hợp
với Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân trong giải quyết các vấn
đề phát sinh
trong THADS trên địa bàn theo quy định của pháp luật về THADS, về
tố tụng và
các quy định khác.
Thứ ba, thực
tế khi triển khai việc chuyển giao công tác từ Tòa án nhân dân
sang Chính
phủ quản lý (tháng 6/1993), khi đó Phòng THADS là một phòng chuyên
môn thuộc Sở
Tư pháp nên Pháp lệnh THADS năm 1993 cũng đã quy định Trưởng
Phòng THADS
là Chấp hành viên trưởng (Điều 15 Pháp lệnh THADS năm 1993 và
các Điều 13,
Điều 14 Nghị định số 30-CP ngày 02/6/1993 của Chính phủ về tổ chức,
nhiệm vụ,
quyền hành của cơ quan quản lý công tác thi hành án dân sự, cơ quan thi
hành án dân
sự và Chấp hành viên). Quy định này đã đảm bảo các chỉ đạo về hoạt
động hành
chính không lấn sân vào hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ THADS.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét