Câu 58. Luật THADS năm 2025 có những quy định sửa đổi, bổ sung nào về phí, chi phí thi hành án so với Luật THADS năm 2008?

 Đáp:

1. Về phí thi hành án:

- Thứ nhất, Luật THADS năm 2025 đã sửa đổi quy định về khái niệm “Phí thi

hành án”, theo đó, tại khoản 10 Điều 3 quy định: “10. Phí thi hành án là khoản tiền

mà đương sự phải nộp khi người được thi hành án nhận được tiền, tài sản theo bản

án, quyết định.”, trong khi đó, khoản 7 Điều 3 Luật THADS năm 2008 quy định: “7.

Phí thi hành án là khoản tiền mà người được thi hành án phải nộp khi nhận được

tiền, tài sản theo bản án, quyết định.”. Như vậy, chủ thể nộp phí thi hành án là “đương

sự” bao gồm cả người được thi hành án, người phải thi hành án theo Luật THADS

năm 2025 thay vì chỉ có “người được thi hành án” theo Luật THADS năm 2008.

- Thứ hai, tại khoản 1 Điều 53 Luật THADS năm 2025 đã quy định đương sự

yêu cầu thi hành án phải nộp phí thi hành án. Đây là quy định được bổ sung để đảm

bảo thống nhất với Luật phí, lệ phí. Theo đó, người yêu cầu nhà nước cung cấp dịch

vụ thì phải nộp phí.

- Thứ ba, tại khoản 1 Điều 53 Luật THADS năm 2025 cũng đưa ra một số quy

định riêng về phí thi hành án, cụ thể:

+ Người phải thi hành án không phải chịu phí thi hành án đối với khoản tiền,

tài sản đã thi hành trước khi có quyết định thi hành án hoặc trong thời hạn tự nguyện

thi hành án.


+ Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định thi hành án theo

yêu cầu của người phải thi hành án trước ngày 01 tháng 7 năm 2026 thì người phải

thi hành án không phải chịu phí thi hành án đối với khoản phải thi hành án.

2. Về chi phí thi hành án

- Thứ nhất, Luật THADS năm 2025 đã bổ sung khái niệm về “Chi phí thi hành

án”, theo đó, tại khoản 2 Điều 53 quy định: “2. Chi phí thi hành án là các chi phí phát

sinh trong quá trình tổ chức thi hành án, bao gồm chi phí cưỡng chế và chi phí khác.

Chi phí thi hành án do người phải thi hành án chịu, trừ trường hợp pháp luật quy định

do ngân sách nhà nước, người được thi hành án hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác

chịu.”

- Thứ hai, về chi phí cưỡng chế thi hành án: Luật THADS năm 2025 cơ bản

giữ nguyên các quy định về các chi phí cưỡng chế thi hành án đối với từng đối tượng

là người phải thi hành án, người được thi hành án, ngân sách nhà nước chi trả. Bên

cạnh đó, có một số nội dung bổ sung sau:

+ Đối với các chi phí cưỡng chế do người phải thi hành án chịu: giữ nguyên

quy định hiện hành, chỉ sửa đổi “chi phí cho việc định giá” thành “chi phí cho việc

thẩm định giá, xác định giá”; “chi phí định giá lại” thành “chi phí thẩm định giá lại,

xác định giá lại” để phù hợp với quy định tại Điều 82 Luật THADS 2025 về “Thẩm

định giá, xác định giá tài sản kê biên”. Bên cạnh đó, Luật THADS 2025 bổ sung quy

định “Chi phí khác theo quy định của Chính phủ”.

+ Đối với các chi phí cưỡng chế do người được thi hành án chịu: cơ bản giữ

nguyên quy định hiện hành. Bên cạnh đó, bổ sung quy định người được thi hành án phải

chịu chi phí thẩm định giá lại tài sản trong trường hợp đương sự thoả thuận hoặc người

được thi hành án có văn bản đề nghị hoãn thi hành án theo quy định tại điểm c khoản 1

Điều 46 Luật THADS dẫn đến chứng thư thẩm định giá hết hiệu lực. Đồng thời, Luật

THADS 2025 bổ sung quy định “Chi phí khác theo quy định của Chính phủ”.

+ Đối với các chi phí cưỡng chế do Ngân sách nhà nước trả:

Một là, Luật THADS đã sửa đổi, bổ sung quy định Ngân sách nhà nước trả chi

phí “định giá lại tài sản khi có vi phạm quy định về giá” thành “thẩm định giá lại,

xác định giá lại tài sản theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 82 Luật”.

Theo đó, điểm a khoản 2 Điều 82 quy định: “a) Có kết luận của cơ quan, người có

thẩm quyền về việc Chấp hành viên hoặc doanh nghiệp thẩm định giá có vi phạm

nghiêm trọng dẫn đến sai lệch kết quả thẩm định giá, xác định giá;”. Điểm b khoản

2 Điều 82 quy định: “b) Chứng thư thẩm định giá đã hết hiệu lực trước khi ký hợp

đồng dịch vụ đấu giá tài sản, trừ trường hợp đương sự có thỏa thuận về việc tiếp tục

sử dụng giá theo chứng thư đó”. Như vậy, Luật THADS năm 2025 đã quy định cụ

thể các trường hợp được coi là có vi phạm quy định về giá để ngân sách nhà nước

chi trả chi phí thẩm định giá, xác định giá lại tài sản. Đồng thời, bổ sung trường hợp

ngân sách nhà nước chi trả chi phí thẩm định giá, xác định giá lại tài sản khi “chứng

 

66

 

thư thẩm định giá đã hết hiệu lực trước khi ký hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản, trừ

trường hợp đương sự có thỏa thuận về việc tiếp tục sử dụng giá theo chứng thư đó”.

Hai là, quy định rõ ngân sách nhà nước trả chi phí “xác minh điều kiện thi hành

án trước khi có quyết định cưỡng chế” thay vì “chi phí xác minh điều kiện thi hành

án” như Luật hiện hành nhằm xác định rõ phạm vi chi phí xác minh do ngân sách chi

trả. Như vậy, sau khi có quyết định cưỡng chế, chi phí xác minh điều kiện thi hành án

sẽ do đương sự chịu, dự thảo Nghị định sẽ quy định chi tiết về nội dung này.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét