Đáp:
Việc uỷ thác thi hành án được quy định tại Điều 49 Luật THADS năm 2025
trên cơ sở tiếp tục cơ bản kế thừa quy định của các Điều 55, 56, 57 Luật THADS
năm 2008. Bên cạnh đó, có một số nội dung sửa đổi, bổ sung sau:
- Bổ sung quy định đối với trường hợp trên địa bàn có “tài sản là tiền, tài sản
số, tài sản khác trong tài khoản hoặc trường hợp khác theo quy định của Chính
phủ.” thì cơ quan THADS có thể áp dụng các biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng
chế đối với tài sản đó mà không phải thực hiện uỷ thác thi hành án (điểm a khoản 1
Điều 49).
- Quy định tại đoạn 3 điểm a khoản 1 Điều 55 Luật THADS năm 2008 quy
định: “Trường hợp thi hành nghĩa vụ liên đới mà người phải thi hành án có tài sản,
làm việc, cư trú hoặc có trụ sở ở các địa phương khác nhau thì ủy thác toàn bộ nghĩa
vụ thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự thuộc một trong các địa phương nơi
người phải thi hành án có điều kiện thi hành án”. Tuy nhiên, Luật THADS năm 2025
đã quy định “Trường hợp thi hành nghĩa vụ liên đới mà người phải thi hành án có tài
sản, làm việc, cư trú hoặc có trụ sở ở các địa phương khác nhau thì ủy thác toàn bộ
nghĩa vụ thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự thuộc một trong các địa phương
nơi người phải thi hành án có điều kiện thi hành án, trừ trường hợp quy định tại khoản
1 Điều 50 của Luật này”.
- Bổ sung quy định đối với trường hợp vật chứng, tài sản mà bản án, quyết
định tuyên tịch thu sung quỹ ở nơi khác thì cơ quan THADS thực hiện uỷ thác thi
59
hành án cho cơ quan THADS nơi có vật chứng, tài sản mà không phải chờ sau khi
xử lý xong tài sản trên địa bàn (điểm b khoản 1 Điều 49 Luật THADS năm 2025).
- Bên cạnh đó, Luật THADS năm 2025 đã thu hút quy định của Nghị định số
62/2025/NĐ-CP: “Các quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án, quyết
định tạm hoãn xuất cảnh và các quyết định về thi hành án khác liên quan đến khoản
ủy thác của cơ quan ủy thác có hiệu lực cho đến khi có quyết định thay thế của cơ
quan thi hành án dân sự nhận ủy thác.” (khoản 2 Điều 49).
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét