Đáp:
Tại Điều 46 Luật THADS năm 2025 đã quy định về việc hoãn thi hành án, theo đó, đã sửa đổi, bổ sung so với Luật THADS năm 2008 một số điểm như sau:
- Thứ nhất, giới hạn rõ khoản nghĩa vụ được hoãn thi hành án khi người phải thi hành án bị ốm nặng. Nếu như Luật THADS năm 2008 quy định trường hợp người phải thi hành án án bị ốm nặng, có xác nhận của cơ sở y tế từ cấp huyện trở lên thì hoãn thi hành án đối với vụ việc đó thì Luật THADS năm 2025 đã giới hạn lại khoản nghĩa vụ được hoãn chỉ bao gồm các “Nghĩa vụ gắn liền với nhân thân của người phải thi hành án hoặc pháp luật quy định nghĩa vụ không được chuyển giao” mà người đó mắc bệnh hiểm nghèo, có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản trở lên thì mới hoãn thi hành án (điểm a khoản 1 Điều 46).
- Thứ hai, giới hạn phạm vi hoãn thi hành án trong trường hợp chưa xác định được địa chỉ của người phải thi hành án Luật THADS năm 2025 đã sửa đổi quy định về hoãn thi hành án trong trường hợp chưa xác định được địa chỉ của người phải thi hành án theo hướng thu hẹp phạm vi nghĩa vụ áp dụng. Nếu như Luật năm 2008 quy định căn cứ hoãn thi hành án trong trường hợp “chưa xác định được địa chỉ của người phải thi hành án hoặc vì lý do chính đáng khác mà người phải thi hành án không thể tự mình thực hiện nghĩa vụ” có thể được hiểu là áp dụng đối với toàn bộ nghĩa vụ trong vụ việc (điểm b khoản 1 Điều 48), thì Luật năm 2025 đã làm rõ: chỉ hoãn thi hành án đối với các “nghĩa vụ gắn liền với nhân thân của người phải thi hành án hoặc nghĩa vụ mà pháp luật quy định không được chuyển giao” trong trường hợp chưa xác định được địa chỉ của người phải thi hành án (điểm b khoản 1 Điều 46).
- Thứ ba, bổ sung và làm rõ căn cứ hoãn thi hành án trên cơ sở ý chí của đương sự Luật THADS năm 2025 đã sửa đổi, làm rõ căn cứ hoãn thi hành án liên quan đến ý chí của đương sự, đối với căn cứ “đương sự đồng ý hoãn thi hành án” thì quy định rõ hơn việc thỏa thuận phải “bằng văn bản”, bên cạnh đó, bổ sung trường hợp về căn cứ hoãn thi hành án là “người được thi hành án có văn bản đề nghị hoãn thi hành án” (điểm c khoản 1 Điều 46). Đồng thời, Luật cũng bổ sung điều kiện quan trọng là việc thỏa thuận hoặc đề nghị hoãn này không được làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba.
- Thứ tư, hoàn thiện căn cứ hoãn thi hành án liên quan đến tài sản đang được Tòa án thụ lý giải quyết Luật THADS năm 2025 đã sửa đổi căn cứ hoãn thi hành án trong trường hợp tài sản để thi hành án đang được Tòa án thụ lý giải quyết theo hướng thu hẹp phạm vi hoãn và bổ sung các trường hợp loại trừ. Theo đó, nếu như Luật năm 2008 quy định tương đối “mở” rằng khi tài sản để thi hành án đã được Tòa án thụ lý theo quy định tại Điều 74 và Điều 75 thì hoãn thi hành án, thì Luật năm 2025 đã làm rõ: không hoãn thi hành án trong các trường hợp (i) tài sản đó đã được bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật tuyên kê biên, xử lý, công nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng; hoặc (ii) người phải thi hành án có tài sản, thu nhập khác bảo đảm thi hành nghĩa vụ (điểm d khoản 1 Điều 46).
- Thứ năm, hoàn thiện căn cứ hoãn thi hành án trong trường hợp đang thực hiện các thủ tục tố tụng và tương trợ tư pháp có liên quan Luật Thi hành án dân sự năm 2025 quy định bên cạnh trường hợp “việc thi hành án đang trong thời hạn cơ quan có thẩm quyền giải thích bản án, quyết định và trả lời kiến nghị” như quy định của Luật năm 2008, Luật năm 2025 đã mở rộng và làm rõ hơn các căn cứ hoãn, bao gồm: (i) đang trong thời hạn cơ quan có thẩm quyền sửa chữa, bổ sung, giải thích bản án, quyết định hoặc đang thực hiện tương trợ tư pháp về dân sự theo quy định của pháp luật (điểm g khoản 1 Điều 46); và (ii) đang trong thời hạn cơ quan có thẩm quyền trả lời kiến nghị của cơ quan thi hành án dân sự về việc xem xét lại bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm (điểm h khoản 1 Điều 46).
- Thứ sáu, bổ sung các căn cứ hoãn thi hành án mới nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn và bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật Trên cơ sở tổng kết thực tiễn và yêu cầu hoàn thiện pháp luật, Luật THADS năm 2025 đã bổ sung một số căn cứ hoãn thi hành án mới, bao gồm: (i) Nhận được quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế đối với tài sản thi hành án của cơ quan tiến hành tố tụng để phục vụ điều tra, truy tố, xét xử, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác (điểm e khoản 1 Điều 46); (ii) Người được nhận tài sản, người được giao nuôi dưỡng đã được thông báo hợp lệ 02 lần về việc nhận tài sản, nhận người được nuôi dưỡng nhưng không đến nhận (điểm i khoản 1 Điều 46); (iii) Nhận được thông báo thụ lý của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền về việc giải quyết đề nghị xem xét lại quyết định công nhận kết quả hòa giải thành hoặc hủy phán quyết, quyết định (điểm l khoản 1 Điều 46).
- Thứ bảy, điều chỉnh cách tiếp cận đối với một số trường hợp từ “hoãn thi hành án” sang “chưa có điều kiện thi hành án” Luật THADS năm 2025 đã có sự điều chỉnh đáng chú ý khi không còn quy định một số trường hợp thuộc diện hoãn thi hành án như Luật THADS năm 2008 trước đây, mà chuyển sang xác định là chưa có điều kiện thi hành án. Cụ thể, Luật năm 2025 không còn quy định hoãn thi hành án đối với trường hợp người phải thi hành án bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quyết định của Tòa án; thay vào đó, đối với các nghĩa vụ gắn liền với nhân thân hoặc nghĩa vụ mà pháp luật không cho phép chuyển giao, thì được xác định là chưa có điều kiện thi hành án. Tương tự, đối với trường hợp tài sản kê biên đang cầm cố, thế chấp mà sau khi giảm giá có giá trị bằng hoặc thấp hơn chi phí thi hành án và nghĩa vụ được bảo đảm, Luật cũng không còn coi đây là căn cứ hoãn, mà chuyển sang xác định là chưa có điều kiện thi hành án, trừ trường hợp người phải thi hành án còn có tài sản, thu nhập khác.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét