Câu 12. Những hành vi nào bị nghiêm cấm trong thi hành án dân sự?
Đáp:
Tại Điều 16 Luật THADS năm 2025 quy định các hành vi bị cấm trong thi hành án dân sự, cụ thể như sau:
1. Nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện các hành vi sau đây:
- Không chấp hành bản án, quyết định; không chấp hành các quyết định, yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên; chống đối, trì hoãn hoặc có hành vi gây khó khăn, cản trở quá trình tổ chức thi hành án;
- Nhận hối lộ; chiếm đoạt, sử dụng trái phép vật chứng, tiền, tài sản thi hành án; phá hủy niêm phong, tiêu dùng, đánh tráo, cất giấu, hủy hoại, tẩu tán vật chứng, tài sản tạm giữ, thay đổi hiện trạng, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản thi hành án;
- Cố ý không ra quyết định về thi hành án hoặc ra quyết định về thi hành án trái pháp luật; áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án trái pháp luật;
- Lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn cản trở, can thiệp trái pháp luật việc giải quyết việc thi hành án hoặc lợi dụng ảnh hưởng của mình tác động đến người có trách nhiệm thi hành án; cố ý thi hành trái nội dung bản án, quyết định; lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn để thi hành trái pháp luật, trì hoãn việc thi hành án;
- Giả mạo, làm sai lệch văn bản, hồ sơ, tài liệu, thông tin, dữ liệu điện tử để trốn tránh nghĩa vụ thi hành án hoặc kéo dài thời gian tổ chức thi hành án; làm lộ thông tin hoặc lợi dụng, lạm dụng thông tin về tài khoản, thu nhập, tài sản của người phải thi hành án để sử dụng trái phép hoặc làm ảnh hưởng đến việc thi hành án;
- Xâm phạm, đe doạ xâm phạm an ninh, an toàn, trật tự đối với trụ sở làm việc của cơ quan thi hành án và địa điểm diễn ra các hoạt động thi hành án;
- Khiếu nại, tố cáo, phản ánh, lan truyền thông tin biết rõ là sai sự thật nhằm kích động, vu cáo, vu khống, xúc phạm uy tín, sự tôn nghiêm, danh dự, nhân phẩm của cơ quan, tổ chức, người thi hành công vụ trong hoạt động thi hành án;
- Thiếu trách nhiệm, cố ý chậm trễ trong lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện công tác bảo vệ cơ quan, tổ chức, người thi hành công vụ trong hoạt động thi hành án;
- Xâm phạm tính mạng, sức khỏe, uy tín, danh dự, nhân phẩm, tài sản của Chấp hành viên, Thừa hành viên, những người khác tham gia vào hoạt động thi hành án hoặc người thân của họ;
- Trốn tránh việc nộp phí thi hành án hoặc các khoản phải nộp khác.
2. Nghiêm cấm Chấp hành viên thực hiện các hành vi sau đây:
- Hành vi quy định tại các điểm b, c, d và đ khoản 1 Điều này;
- Những việc mà pháp luật quy định công chức không được làm;
- Vi phạm chuẩn mực đạo đức Chấp hành viên;
- Trực tiếp tổ chức việc thi hành án liên quan đến quyền, lợi ích của bản thân và của vợ, chồng, con đẻ, con nuôi của Chấp hành viên; cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, bác, chú, cậu, cô, dì và anh, chị, em ruột của Chấp hành viên, của vợ hoặc chồng của Chấp hành viên; cháu ruột mà Chấp hành viên là ông, bà, bác, chú, cậu, cô, dì.
3. Nghiêm cấm Thừa hành viên thực hiện các hành vi sau đây:
- Hành vi quy định tại các điểm b, d và đ khoản 1 Điều này;
- Vi phạm chuẩn mực đạo đức hành nghề Thừa hành viên;
- Lợi dụng, lạm dụng nhiệm vụ, quyền hạn được giao, sử dụng thông tin được cung cấp để đe dọa, nhũng nhiễu hoặc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật khác đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình tổ chức thi hành án;
- Trực tiếp tổ chức việc thi hành án liên quan đến quyền, lợi ích của bản thân và của vợ, chồng, con đẻ, con nuôi của Thừa hành viên; cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, bác, chú, cậu, cô, dì và anh, chị, em ruột của Thừa hành viên, của vợ hoặc chồng của Thừa hành viên; cháu ruột mà Thừa hành viên là ông, bà, bác, chú, cậu, cô, dì;
- -Đồng thời hành nghề tại 02 văn phòng thi hành án dân sự trở lên; đồng thời là luật sư, công chứng viên, quản tài viên, đấu giá viên, giám định viên, thẩm định viên về giá.
Đây là quy định mới của Luật THADS năm 2025 so với Luật THADS năm 2008, trên cơ sở kế thừa các quy định của Luật THADS năm 2008 (Điều 11. Trách nhiệm phối hợp của cơ quan, tổ chức, cá nhân với cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên; Điều 21. Những việc Chấp hành viên không được làm; Điều 165. Xử lý vi phạm); đồng thời, thể chế hóa quy định của Quy định số 183-QĐ/TW ngày 18/9/2024 của Bộ Chính trị về bảo vệ cơ quan, tổ chức, người thi hành công vụ trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án.
Việc bổ sung Điều 16 trong Luật THADS năm 2025 với việc quy định đầy đủ, phân định rõ các nhóm chủ thể (cơ quan, tổ chức, cá nhân; Chấp hành viên; Thừa hành viên) và hệ thống hóa cụ thể các hành vi bị nghiêm cấm là hết sức cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc. Quy định này không chỉ khắc phục khoảng trống của Luật THADS năm 2008 khi chưa thiết lập một danh mục các hành vi bị cấm, mà còn trực tiếp đáp ứng yêu cầu phòng ngừa, phát hiện và xử lý các vi phạm phát sinh ngày càng tinh vi trong thực tiễn thi hành án. Đặc biệt, việc mở rộng các hành vi bị nghiêm cấm sang các lĩnh vực mới như dữ liệu điện tử, bảo mật thông tin, xung đột lợi ích, chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, hay hành vi lợi dụng ảnh hưởng, can thiệp trái pháp luật đã tạo hành lang pháp lý chặt chẽ hơn để kiểm soát quyền lực và phòng, chống tiêu cực. Đồng thời, quy định riêng đối với Chấp hành viên và Thừa hành viên góp phần cá thể hóa trách nhiệm, nâng cao tính chuyên nghiệp, liêm chính và kỷ luật nghề nghiệp. Qua đó, không chỉ tăng cường tính răn đe mà còn nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức thi hành án dân sự, bảo vệ an toàn cho người thi hành công vụ, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, đồng thời củng cố niềm tin của xã hội đối với hoạt động thi hành án và pháp luật.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét