- Để xác định thời hiệu thì phải xác định được thời điểm bắt đầu, thời điểm kết thúc cũng như thời điểm được xác định. Việc tính thời hiệu phải tuân thủ cách tính thời hạn. Thời hiệu được tính từ thời điểm bắt đầu ngày đầu tiên của thời hiệu và ngày chấm dứt tại thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hiệu. Tuy nhiên, cũng có các trường hợp thời hiệu chỉ có thời điểm bắt đầu mà không quy định thời điểm kết thúc như: Thời hiệu đòi lại tài sản là nhà đất không xác định ngày kết thúc thời hiệu.
- Thời điểm được xác định (hay hiểu cách khác là “điểm mốc”) thông thường là ngày có sự kiện pháp lý xảy ra (vi phạm nghĩa vụ thanh toán, ngày xảy ra tai nạn, người để lại di sản chết…)
- Ví dụ: A là thủy thủ tàu Vinaline, ngày 20/4/2015 A lên tàu vận chuyển hàng tại cảng Hải Phòng. Đến ngày 21/6/2015 lên đường đi Hàn Quốc giao hàng thì tàu bị chìm tại vùng biển của Hàn Quốc, A bị mất tích. Sau thời gian tìm kiếm nhưng không có kết quả, không có tin tức xác thực là A còn sống.
- Ngày 04/7/2016, chị B (là vợ A) đã làm đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền tuyên bố A là đã chết. Trường hợp này xác định thời hạn yêu cầu là 1 năm theo quy định tại điểm C Khoản 1 Điều 81 của Bộ luật dân sự năm 2005, đang có hiệu lực tại thời điểm xảy ra sự kiện pháp lý, không áp dụng thời hạn theo quy định tại điểm C Khoản 1 Điều 71 của Bộ luật dân sự 2015.
- Vấn đề xác định ngày chết để tính thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế được xác định trong quyết định của Tòa án theo quy định tại Điều 393 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 (21/6/2015).
- Tuy nhiên, khi xem xét thời hiệu khởi kiện về chia di sản thừa kế phải xem xét thời điểm nhận đơn khởi kiện. Nếu B có đơn khởi kiện chia di sản thừa kế trước ngày 01/01/2017 thì thời hiệu thừa kế là 10 năm, tính từ ngày 22/6/2015; còn trường hợp B có đơn khởi kiện chia di sản thừa kế kể từ ngày 01/01/2017 thì thời hiệu thừa kế là 30 năm, kể từ ngày 22/5/2015 (xem khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số 02 ngày 30/6/2015 của Hội đồng thẩm phán TANDTC).
Trên cơ sở phân tích, so sánh các quy định pháp luật về thời hạn, thời hiệu được quy định tại Bộ luật dân sự và Bộ luật tố tụng dân sự (sửa đổi), chúng ta có thể nhận thức và áp dụng thống nhất, nhưng trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự, khi áp dụng vào xử lý tình huống trong thực tiễn có cách hiểu khác nhau, đặc biệt là cách tính thời hạn tố tụng còn có vướng mắc do chưa phân biệt rõ từng loại thời hạn tố tụng có cách xác định khác nhau, cần áp dụng chính xác, đảm bảo tính nghiêm minh, thống nhất trong hệ thống Tòa án cũng như cơ quan tố tụng khác, góp phần bảo vệ quyền lợi cho đương sự, nâng cao ý thức trách nhiệm người dân người tiến hành tố tụng, bảo vệ pháp chế, xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét