2.2.6. Về thời hiệu

  • Về áp dụng thời hiệu, BLDS năm 2015 quy định Tòa án chỉ được áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ, việc; người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền từ chối áp dụng thời hiệu, trừ trường hợp việc từ chối đó nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ.

Về các thời hiệu cụ thể, BLDS năm 2015 quy định:

  • Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu là 02 năm đối với giao dịch vô hiệu tương đối (giao dịch vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; giao dịch vô hiệu do bị nhầm lẫn, bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép; giao dịch vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình; giao dịch vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức). Trường hợp này, hết thời hạn 02 năm mà không có yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì giao dịch dân sự được xác định là có hiệu lực. Đối với giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội hay do giả tạo thì thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu không bị hạn chế.
  • Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng và thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.
  • Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế; thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế; thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Để đồng bộ với các quy định của BLDS năm 2015 về thời hiệu, Điều 184 và Điều 185 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định theo hướng các quy định của Bộ luật dân sự về thời hiệu được áp dụng trong tố tụng dân sự.

Tuy nhiên, môṭ số VBQPPL hiêṇ hành chưa có sự thống nhất về cách tính thời hiệu với BLDS năm 2015.

Ví dụ:

  • Điều 30 Luâṭ kinh doanh bảo hiểm quy điṇh : "Thời hiệu khởi kiện về hợp đồng bảo hiểm là ba năm, kể từ thời điểm phát sinh tranh chấp";
  • Điều 5 Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước năm 2010 quy định: Thời hiệu yêu cầu bồi thường là 02 năm kể từ ngày có văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ.

Đề xuất, kiến nghị:

  • Sửa đổi, bổ sung các luật liên quan về thời hiệu theo hướng không nên quy định về thời hiệu cụ thể trong các luật liên quan nhằm áp duṇg chung quy định về thời hiêụ của BLDS năm 2015; trường hợp luâṭ liên quan có quy điṇh về thời hiêụ thì cần bảo đảm tính thống nhất về cách tính so với quy điṇh của BLDS năm 2015.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét