PHẦN THỨ TƯ KHIẾU NẠI, TỐ CÁO, KHÁNG NGHỊ, KIẾN NGHỊ

 

PHẦN THỨ TƯ

KHIẾU NẠI, TỐ CÁO, KHÁNG NGHỊ, KIẾN NGHỊ

 

Câu 99. Luật THADS năm 2025 có những quy định sửa đổi, bổ sung nào về quyền khiếu nại về THADS và những trường hợp khiếu nại không được thụ lý giải quyết so với Luật THADS năm 2008?

Đáp:

1. Tại Điều 96 Luật THADS năm 2025 đã quy định về quyền khiếu nại về THADS, theo đó, so với Luật THADS năm 2008 có những nội dung sửa đổi, bổ sung như sau:

- Bổ sung đối tượng có thể bị khiếu nại trong THADS bao gồm “Trưởng văn phòng thi hành án dân sự”, “Thừa hành viên” bởi đây là những chủ thể tổ chức thi hành án.

- Quy định cụ thể về “Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan” có quyền khiếu nại về THADS là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan quy định tại khoản 4 Điều 3 Luật THADS năm 2025, cụ thể: “Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cơ quan, tổ chức, cá nhân mà trong quá trình tổ chức thi hành án phát sinh quyền, nghĩa vụ của họ”.

- Về thời hiệu khiếu nại: Luật THADS năm 2025 đã phân tách, quy định rõ thời hiệu khiếu nại đối với khiếu nại lần đầu và khiếu nại lần 2 thay vì quy định chung như Luật hiện hành, cụ thể:

* Thời hiệu khiếu nại lần đầu (khoản 2 Điều 96):

    • - Giữ nguyên quy định “Đối với quyết định, hành vi về thi hành án trước khi có quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế là 15 ngày kể từ ngày được thông báo hợp lệ quyết định hoặc biết được hành vi đó”.
    • - Sửa đổi, bổ sung quy định đối với thời hiệu khiếu nại đối với quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm là 10 ngày kể từ ngày được thông báo hợp lệ quyết định hoặc biết được hành vi đó thay vì quy định riêng thời hiệu đối với quyết định áp dụng biện pháp phong tỏa là 03 ngày và các quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm khác là 10 ngày như Luật hiện hành.
    • - Các thời hạn trên được áp dụng “kể từ ngày được thông báo hợp lệ quyết định” thay vì “kể từ ngày nhận quyết định” như Luật THADS năm 2008.

* Thời hiệu khiếu nại lần hai (khoản 3 Điều 96): thời hiệu là 15 ngày kể từ ngày được thông báo hợp lệ quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu.

2. Tại Điều 97 Luật THADS năm 2025 đã quy định về những trường hợp khiếu nại không được thụ lý giải quyết, theo đó, so với Luật THADS năm 2008 có những nội dung sửa đổi, bổ sung như sau:

- Sửa đổi, bổ sung căn cứ không thụ lý giải quyết khiếu nại “Thời hiệu khiếu nại đã hết, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 96 Luật THADS”. Theo đó, trường hợp người khiếu nại chứng minh được do tình trạng khẩn cấp, trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng mà người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại trong thời hiệu thì thời gian có tình trạng khẩn cấp, trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng không tính vào thời hiệu khiếu nại.

- Bổ sung 02 căn cứ không thụ lý giải quyết khiếu nại, cụ thể: 

“ Quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại là quyết định, hành vi trong nội bộ cơ quan nhà nước để chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, công vụ; quyết định hành chính, hành vi hành chính trong chỉ đạo điều hành của cơ quan hành chính cấp trên với cơ quan hành chính cấp dưới; quyết định hành chính có chứa đựng các quy phạm pháp luật do cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục của pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật.” (khoản 6 Điều 97) và “Nội dung khiếu nại đã được giải quyết theo trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo hoặc trước đó đã có thông báo đình chỉ giải quyết khiếu nại theo quy định tại khoản 3 Điều 105 của Luật này.” (khoản 7 Điều 97) 

để phù hợp với thực tiễn công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động THADS và pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Câu 100. Luật THADS năm 2025 có những quy định sửa đổi, bổ sung nào về thẩm quyền giải quyết khiếu nại về THADS so với Luật THADS năm 2008?

Đáp:

Thẩm quyền giải quyết khiếu nại về THADS được quy định tại Điều 98 Luật THADS năm 2025. Theo đó, có một số nội dung sửa đổi, bổ sung như sau:

- Thứ nhất, nhằm phù hợp với Luật Khiếu nại, mô hình tổ chức THADS sau sắp xếp và xã hội hóa hoạt động THADS, Luật THADS năm 2025 đã quy định về các cấp giải quyết khiếu nại, cụ thể: Thủ trưởng cơ quan THADS giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định, hành vi của mình và của Chấp hành viên, Phó Thủ trưởng thuộc quyền quản lý; Trưởng Văn phòng THADS giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định, hành vi của mình và của Thừa hành viên thuộc Văn phòng; Thủ trưởng cơ quan quản lý THADS giải quyết lần hai đối với quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan THADS và quyết định giải quyết khiếu nại của Trưởng Văn phòng THADS. Trường hợp cần thiết, Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có quyền xem xét lại quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực thi hành của Thủ trưởng cơ quan quản lý THADS.

- Thứ hai, về chủ thể có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, Luật năm 2025 đã bổ sung Trưởng Văn phòng thi hành án dân sự là chủ thể có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu đối với hoạt động của mình và của Thừa hành viên. Quy định này là điểm mới so với Luật năm 2008, phản ánh sự xuất hiện của mô hình Văn phòng thi hành án dân sự và Thừa hành viên, đồng thời bảo đảm có cơ chế kiểm soát phù hợp đối với các chủ thể mới trong hoạt động thi hành án.

- Thứ ba, Luật THADS năm 2025 chỉ quy định Thủ trưởng cơ quan quản lý THADS chỉ có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định giải quyết khiếu nại chưa có hiệu lực thi hành của Thủ trưởng cơ quan THADS, Trưởng văn phòng THADS, không quy định thẩm quyền giải quyết “khiếu nại quyết định, thành vi trái pháp luật của Thủ trưởng cơ quan THADS cấp tỉnh” như Luật THADS năm 2008. Đồng thời, quy định sửa đổi quyết định giải quyết khiếu nại lần hai của Thủ trưởng cơ quan quản lý THADS có hiệu lực “ngay”.

- Thứ ba, sửa đổi, bổ sung căn cứ Bộ trưởng Bộ Tư pháp xem xét lại quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan THADS tỉnh, thành phố, Trưởng Văn phòng THADS, Thủ trưởng cơ quan quản lý THADS đã có hiệu lực khi có một trong các căn cứ sau:

  • + Quyết định, hành vi bị khiếu nại là trái pháp luật nhưng quyết định giải quyết khiếu nại cho rằng quyết định, hành vi đó là đúng pháp luật;
  • + Việc giải quyết khiếu nại có vi phạm nghiêm trọng quy định của pháp luật về thủ tục giải quyết khiếu nại về thi hành án dân sự;
  • + Có tình tiết mới làm thay đổi cơ bản kết quả giải quyết khiếu nại;
  • + Có đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

- Đối với việc giải quyết khiếu nại về THADS do cơ quan THADS thuộc Bộ Quốc phòng, Luật THADS năm 2025 cũng đã quy định cụ thể về thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu của Thủ trưởng cơ quan THADS cấp quân khu, giải quyết lần hai của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng và thẩm quyền xem xét lại các quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

Câu 101. Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khi, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh đối với quyết định, hành vi trong việc thi hành án trong mọi trường hợp là 15 ngày; của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự trung ương là 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc phát hiện hành vi vi phạm.

Hỏi: Nhận định nêu trên có phù hợp với quy định pháp luật hay không?

Đáp:

Nhận định nêu trên chưa phù hợp với quy định, bởi: Tại khoản 2 Điều 112 Luật THADS năm 2025 quy định: 

“2. Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh đối với quyết định, hành vi trong việc thi hành án là 15 ngày; của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự trung ương là 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc phát hiện hành vi vi phạm. Trường hợp việc thi hành án đã kết thúc thì thời hạn kháng nghị là 01 năm kể từ ngày Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền nhận được thông báo về kết thúc việc thi hành án.”

Như vậy, đối với việc thi hành án đã kết thúc thì thời hạn kháng nghị là 01 năm kể từ ngày Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền nhận được thông báo về kết thúc việc thi hành án mà không tính thời hạn kháng nghị như dữ liệu câu hỏi đưa ra./.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét