PHẦN THỨ NHẤT
NHỮNG QUY ĐỊNH
CHUNG
Câu 1. Luật Thi hành án dân sự năm 2025 quy định phạm vi điều chỉnh như thế nào? Có điểm gì mới so với Luật Thi hành án dân sự năm 2008?
Đáp:
Theo quy định tại Điều 1 Luật THADS năm 2025, phạm vi điều chỉnh của Luật như sau: Luật này quy định nguyên tắc, trình tự, thủ tục thi hành bản án, quyết định, phán quyết theo quy định của pháp luật (sau đây gọi chung là bản án, quyết định); tổ chức, hoạt động của hệ thống thi hành án dân sự, Chấp hành viên, văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên; quyền, nghĩa vụ của người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong thi hành án dân sự.
So với Luật
THADS năm 2008, phạm vi điều chỉnh của Luật THADS năm 2025
có một số điểm
mới như sau:
+ Nội dung
cơ bản như Điều 1 Luật THADS hiện hành.
+ Lược bỏ phần
liệt kê các loại bản án, quyết định để tránh trùng lặp với quy định tại
Điều 2.
+ Bổ sung phạm
vi điều chỉnh của Luật bao gồm “văn phòng thi hành án dân sự, Thừa
hành viên” để
phù hợp với chương II của dự thảo.
Câu 2. Những bản án, quyết định nào được thi hành theo Luật Thi hành án dân sự năm 2025?
Đáp:
Theo quy định
tại Điều 2 Luật THADS năm 2025, những bản án, quyết định
sau đây được
tổ chức thi hành:
1. Bản án,
quyết định của Tòa án về dân sự, phá sản; hình phạt tiền, tịch thu
tài sản,
truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và
phần
dân sự trong
bản án, quyết định hình sự; phần tài sản trong bản án, quyết định về vụ
án hành
chính, bao gồm:
- Bản án,
quyết định có hiệu lực pháp luật gồm: bản án, quyết định hoặc phần
bản án, quyết
định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm;
bản án, quyết
định phúc thẩm; quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm; quyết định của Tòa
án nhân dân
tối cao được thi hành theo quy định của pháp luật; bản án, quyết định dân
sự của Tòa
án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài đã được Tòa án Việt
Nam công nhận
và cho thi hành tại Việt Nam; quyết định tuyên bố phá sản;
- Bản án,
quyết định được thi hành ngay mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng
nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Quyết định
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
2. Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành theo quy định của Luật Cạnh tranh.
3. Phán quyết
trọng tài, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của
Hội đồng trọng
tài theo quy định của Luật Trọng tài thương mại.
4. Quyết định
áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng bồi thường thiệt hại của
Cơ quan điều
tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân theo quy định của Luật
Tư pháp người
chưa thành niên.
5. Bản án,
quyết định khác được thi hành theo quy định của pháp luật.
So với Luật
THADS năm 2008, Luật THADS năm 2025 đã có những quy
định sửa đổi,
bổ sung về bản án, quyết định được thi hành như sau:
- Bổ sung
quyết định của Tòa án nhân dân tối cao có hiệu lực pháp luật được
thi hành
theo quy định của pháp luật được tổ chức thi hành theo Luật THADS năm
2025 (tại điểm
a khoản 1 Điều 2);
- Sửa đổi cụm
từ “quyết định” thành “phán quyết” của Trọng tài nước ngoài đã
được Tòa án
Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam để phù hợp với quy
định tại Điều
424 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (tại điểm a khoản 1 Điều 2);
- Sửa đổi
“Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc
cạnh tranh
mà sau 30 ngày, kể từ ngày có hiệu lực pháp luật đương sự không tự
nguyện thi
hành, không khởi kiện tại Tòa án” (tại điểm đ khoản 1 Điều 2 Luật
THADS năm
2008) thành “Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban
Cạnh tranh
Quốc gia, Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh, quyết định giải
quyết khiếu
nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh
Quốc gia, Hội
đồng giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có liên
quan đến tài
sản của bên phải thi hành theo quy định của Luật Cạnh tranh” để phù
hợp với quy
định của Luật Cạnh tranh (tại khoản 2 Điều 2);
- Bổ sung “Bản
án, quyết định khác được thi hành theo quy định của pháp
luật” tại
khoản 5 Điều 2. Theo đó, trong trường hợp có pháp luật quy định bản án,
quyết định
được tổ chức thi hành theo Luật THADS năm 2025. Ví dụ: Theo Điều 17
Nghị quyết số 205/2025/QH15 ngày 24/6/2025 về việc thí điểm Viện kiểm sát nhân dân khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền dân sự của các chủ thể là nhóm dễ bị tổn thương hoặc bảo vệ lợi ích công quy định: “Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về vụ án dân sự bảo vệ lợi ích công. Trình tự, thủ tục thi hành án được thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án dân sự.”.
Câu 3. Bản án số XXX của Tòa án nhân dân tỉnh Y có nội dung: Buộc Công ty TNHH A phải trả cho Ngân hàng V số tiền 15.000.000.000 đồng. Trường hợp Công ty TNHH A không trả thì Ngân hàng V có quyền yêu cầu Cơ quan THADS phát mại tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và các tài sản trên đất của Ông B để đảm bảo việc thi hành án. Trên cơ sở yêu cầu thi hành án của Ngân hàng V, cơ quan THADS đã thực hiện kê biên, xử lý tài sản của ông B để bảo đảm thi hành án. Trước khi mở cuộc đấu giá 01 ngày làm việc, Ông B có đơn đề nghị nhận lại tài sản và cam kết thanh toán các nghĩa vụ thi hành án và chi phí phát sinh (nếu có).
- Hỏi: Ông B có phải là người phải thi hành án trong vụ việc trên và có quyền nhận lại tài sản thi hành án hay không?
Đáp:
Tại khoản 3 Điều 3 Luật THADS năm 2025 quy định: “Người phải thi hành án là cơ quan, tổ chức, cá nhân phải thực hiện nghĩa vụ trong bản án, quyết định được thi hành, bao gồm cả người có tài sản bảo đảm trong phạm vi nghĩa vụ mà họ bảo đảm.”
Theo quy định tại khoản 4 Điều 83 Luật THADS năm 2025 thì:
“4. Trước khi mở cuộc đấu giá 01 ngày làm việc, người phải thi hành án nộp đủ tiền để thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá thì được nhận lại tài sản thi hành án.”
Như vậy, trong trường hợp này, Ông B được xác định là người phải thi hành án trong phạm vi nghĩa vụ mà ông B bảo đảm cho Công ty TNHH A để thi hành nghĩa vụ với Ngân hàng V. Do đó, khi Ông B đề nghị nhận lại tài sản và nộp đủ tiền để thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá thì được nhận lại tài sản thi hành án.
Câu 4. Việc tổ chức thi hành án theo quy định của Luật Thi hành án dân sự năm 2025 phải tuân theo những nguyên tắc nào?
Đáp:
Theo Điều 4 Luật THADS năm 2025, việc tổ chức thi hành án dân sự phải tuân theo những nguyên tắc sau đây:
- Thứ nhất, Bản án, quyết định quy định tại Điều 2 của Luật THADS năm 2025 phải được cơ quan, tổ chức và mọi công dân tôn trọng. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, trong phạm vi trách nhiệm của mình, chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành án. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn, nghĩa vụ của mình, cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm phối hợp và thực hiện các quyết định về thi hành án, yêu cầu, đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thi hành án dân sự, Chấp hành viên, Thừa hành viên.
- Thứ hai, người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành thì bị cưỡng chế thi hành án.
Người có hành vi cản trở việc tổ chức thi hành án; người đang quản lý, chiếm hữu, sử dụng tài sản thi hành án; người đang trông giữ người được giao cho người khác nuôi dưỡng nếu không thực hiện theo yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự thì có thể bị cưỡng chế theo quy định của Luật này.
- Thứ ba, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.
- Thứ tư, tiếng nói và chữ viết dùng trong thi hành án dân sự là tiếng Việt. Đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình nhưng phải có người phiên dịch. Trường hợp người đó là người dân tộc thiểu số mà không biết tiếng Việt hoặc là người khuyết tật nghe, nói hoặc khuyết tật nhìn thì cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thi hành án dân sự phải bố trí hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền bố trí phiên dịch.
- Thứ năm, đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân không chấp hành bản án, quyết định hoặc không thực hiện các quyết định về thi hành án, các yêu cầu, đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thi hành án dân sự, Chấp hành viên, Thừa hành viên hoặc có các hành vi vi phạm quy định của Luật này thì tùy theo tính chất và mức độ vi phạm, đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân và người đứng đầu của cơ quan, tổ chức đó có thể bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Đây là quy định mới, trên cơ sở kế thừa các quy định có tính nguyên tắc của Luật THADS năm 2008 tại các Điều 4. Bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định; Điều 5. Bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Điều 8. Tiếng nói và chữ viết dùng trong thi hành án dân sự; Điều 10. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại và Điều 11. Trách nhiệm phối hợp của cơ quan, tổ chức, cá nhân với cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên. Việc bổ sung quy định về nguyên tắc thi hành án trong Luật THADS năm 2025 có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo nền tảng pháp lý thống nhất cho toàn bộ hoạt động thi hành án, qua đó nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức thi hành án trên thực tiễn; đồng thời tăng cường trách nhiệm phối hợp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân, củng cố tính cưỡng chế đối với các trường hợp chây ì, cản trở, bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, cũng như siết chặt kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm pháp lý trong thi hành án, góp phần nâng cao chất lượng quản lý, chỉ đạo điều hành trong hệ thống thi hành án dân sự.
Câu 5. Người có hành vi cản trở việc tổ chức thi hành án; người đang quản lý, chiếm hữu, sử dụng tài sản thi hành án; người đang trông giữ người được giao cho người khác nuôi dưỡng nhưng không đồng thời là người được thi hành án, người phải thi hành án nếu không thực hiện theo yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự thì không bị cưỡng chế thi hành án. Cơ quan THADS chỉ được cưỡng chế đối với người phải thi hành án theo nội dung bản án, quyết định.
Hỏi: Nhận định
nêu trên đúng hay sai?
Đáp:
Nhận định trên là SAI, bởi, theo quy định tại đoạn 2 khoản 2 Điều 4 về nguyên tắc thi hành án dân sự thì:
“Người có hành vi cản trở việc tổ chức thi hành án; người đang quản lý, chiếm hữu, sử dụng tài sản thi hành án; người đang trông giữ người được giao cho người khác nuôi dưỡng nếu không thực hiện theo yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự thì có thể bị cưỡng chế theo quy định của Luật này.”.
Bên cạnh đó, khoản 8 Điều 25 Luật THADS năm 2025 quy định Chấp hành viên có nhiệm vụ, quyền hạn:
“8. Áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định của Luật này để thu hồi tiền, tài sản đã chi trả cho đương sự không đúng quy định của pháp luật hoặc để thu phí thi hành án và các khoản phải nộp khác”.
Như vậy, người được thi hành án, người phải thi hành án được nhận tiền chi trả không đúng quy định, không nộp phí thi hành án và các khoản phải nộp khác theo yêu cầu của cơ quan THADS, Chấp hành viên thì có thể bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế theo quy định của Luật THADS năm 2025.
Câu 6. Luật Thi hành án dân sự năm 2025 đã quy định việc chuyển đổi số trong thi hành án dân sự như thế nào?
Đáp:
Luật THADS năm 2025 có nhiều quy định mới liên quan đến chuyển đổi số trong THADS, cụ thể:
1. Tại khoản 9, khoản 11 Điều 3 đã bổ sung thêm 02 nội dung giải thích từ ngữ, cụ thể:
- Văn bản, hồ sơ, tài liệu bao gồm văn bản, hồ sơ, tài liệu giấy và văn bản, hồ sơ, tài liệu điện tử.
- Cơ sở dữ liệu về thi hành án dân sự là tập hợp thông tin về hoạt động thi hành án dân sự, thi hành án hành chính, tổ chức và hoạt động của Thừa hành viên.
2. Theo Điều 5 Luật THADS năm 2025, việc chuyển đổi số trong THADS được quy định như sau:
- Thứ nhất, cơ sở dữ liệu về THADS do Bộ Tư pháp quản lý, được kết nối, chia sẻ với Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia. Cơ quan, tổ chức được giao quản lý Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia, cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành và cơ sở dữ liệu khác có trách nhiệm kết nối, chia sẻ dữ liệu với cơ sở dữ liệu về thi hành án dân sự; thực hiện các yêu cầu của cơ quan quản lý THADS, cơ quan THADS, văn phòng THADS về việc truy cập, khai thác thông tin từ cơ sở dữ liệu đó để phục vụ hoạt động THADS.
Việc kết nối, chia sẻ, cung cấp, khai thác cơ sở dữ liệu về THADS phải tuân thủ quy định của pháp luật về dữ liệu, bảo đảm an ninh, an toàn thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân.
- Thứ hai, cơ quan THADS, văn phòng THADS có trách nhiệm bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin, an toàn dữ liệu theo quy định của pháp luật.
- Thứ ba, các thủ tục về THADS theo quy định của Luật này được thực hiện trực tiếp hoặc trên môi trường số được công nhận theo quy định của pháp luật. Văn bản, hồ sơ, tài liệu, thông tin liên quan đến thi hành án dân sự được lập dưới dạng thông điệp dữ liệu, ký số, gửi, nhận, lưu trữ, xử lý, chia sẻ trên môi trường số bảo đảm theo quy định của pháp luật có giá trị pháp lý như văn bản, hồ sơ, tài liệu, thông tin dưới dạng giấy, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Thứ tư, cơ quan, tổ chức, cá nhân kết nối, chia sẻ, cung cấp, khai thác dữ liệu vi phạm các hành vi bị cấm theo quy định của pháp luật thì phải chịu trách nhiệm, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.
3. Quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao:
- Phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc tạo lập, kết nối, chia sẻ, khai thác cơ sở dữ liệu về thi hành án dân sự; hướng dẫn Tòa án nhân dân các cấp trong tiếp nhận, chuyển giao văn bản, hồ sơ, tài liệu, thông tin trên môi trường số.
- Phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc tạo lập, kết nối, chia sẻ, khai thác cơ sở dữ liệu về thi hành án dân sự; chỉ đạo, hướng dẫn Viện kiểm sát nhân dân các cấp trong tiếp nhận, chuyển giao văn bản, hồ sơ, tài liệu, thông tin trên môi trường số.
4. Quy định
về nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự trong việc:
- Tạo lập, cập nhật cơ sở dữ liệu về thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật và phân cấp của cơ quan có thẩm quyền.
- Được truy cập, truy xuất dữ liệu, khai thác, sử dụng thông tin từ Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia, cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, cơ sở dữ liệu khác theo quy định của pháp luật để phục vụ hoạt động thi hành án dân sự.
5. Quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của văn phòng thi hành án dân sự trong việc phát triển, tạo lập, cập nhật cơ sở dữ liệu theo quy định của pháp luật; khai thác thông tin từ Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia, cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, cơ sở dữ liệu khác theo quy định của pháp luật.
Câu 7. Những yêu cầu đặt ra để bảo đảm an toàn, an ninh thông tin trong quá trình kết nối và khai thác dữ liệu là gì?
Đáp:
Tại khoản 1 Điều 5 Luật THADS năm 2025 đã quy định:
“Việc kết nối, chia sẻ, cung cấp, khai thác cơ sở dữ liệu về thi hành án dân sự phải tuân thủ quy định của pháp luật về dữ liệu, bảo đảm an ninh, an toàn thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân.”.
Để bảo đảm an toàn thông tin, việc kết nối và khai thác dữ liệu phải đáp ứng đồng thời các yêu cầu:
(1) Tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu và an ninh mạng;
(2) Áp dụng các biện pháp kỹ thuật để bảo vệ hệ thống (mã hóa, phân quyền truy cập, giám sát truy cập...);
(3) Bảo đảm dữ liệu được khai thác đúng mục đích, đúng thẩm quyền;
(4) Có cơ chế kiểm tra, giám sát, phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm;
(5) Xác định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quản lý và sử dụng dữ liệu.
Câu 8. Trách nhiệm pháp lý đặt ra đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân khi tham gia kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu thi hành án dân sự là gì?
Đáp:
Tại khoản 4 Điều 5 Luật THADS năm 2025 đã quy định:
4. Cơ quan, tổ chức, cá nhân kết nối, chia sẻ, cung cấp, khai thác dữ liệu vi phạm các hành vi bị cấm theo quy định của pháp luật thì phải chịu trách nhiệm, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.”.
Khi các cơ quan, tổ chức, cá nhân khi tham gia kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu thi hành án dân sự cần phải: Thực hiện đúng quy định về kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu; không sử dụng dữ liệu trái mục đích, không làm lộ, lọt thông tin; bảo đảm tính chính xác, đầy đủ của dữ liệu khi cung cấp và cập nhật; chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu vi phạm quy định; trường hợp gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định pháp luật.
Câu 9. Người được thi hành án có những quyền, nghĩa vụ nào quy định tại Luật Thi hành án dân sự năm 2025?
Đáp:
1. Quyền của người được thi hành án được quy định tại khoản 1 Điều 6 Luật THADS năm 2025, cụ thể:
- Lựa chọn cơ quan thi hành án dân sự hoặc văn phòng thi hành án dân sự để yêu cầu thi hành án theo quy định của Luật này;
- Xác minh và cung cấp thông tin về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án;
- Được thông
báo về thi hành án theo quy định của Luật này;
- Thỏa thuận với các đương sự khác, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về việc thi hành án;
- Yêu cầu Tòa án xác định, phân chia quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản thi hành án; yêu cầu Tòa án sửa chữa, bổ sung bản án, quyết định khi phát hiện lỗi rõ ràng về chính tả, về số liệu do nhầm lẫn hoặc tính toán sai; yêu cầu Tòa án giải thích bản án, quyết định tuyên không rõ, khó thi hành; khởi kiện dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong trường hợp có tranh chấp về tài sản liên quan đến thi hành án;
- Yêu cầu áp dụng biện pháp bảo đảm, áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án, đình chỉ thi hành một phần hoặc toàn bộ quyết định thi hành án theo quy định của Luật này;
- Yêu cầu thay đổi Chấp hành viên trong trường hợp có căn cứ cho rằng Chấp hành viên không vô tư khi làm nhiệm vụ;
- Yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thi hành án dân sự xác nhận kết quả thi hành án theo quy định của pháp luật. Việc yêu cầu xác nhận kết quả thi hành án được thực hiện trên môi trường số hoặc trực tiếp nộp đơn hoặc trình bày bằng lời nói hoặc gửi đơn qua đường bưu điện;
- Chuyển
giao quyền được thi hành án cho người khác;
- Ủy quyền
cho người khác thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình;
- Tạm ứng
chi phí cưỡng chế thi hành án và được xét miễn, giảm phí thi hành
án theo quy định của pháp luật;
- Khiếu nại,
tố cáo về thi hành án.
So với Luật THADS năm 2008, quyền của người được thi hành án tại Luật THADS năm 2025 có những nội dung sửa đổi, bổ sung như sau:
- Quy định bổ sung về quyền lựa chọn cơ quan THADS hoặc văn phòng THADS để yêu cầu tổ chức thi hành án.
- Sửa đổi, bổ
sung về quyền thỏa thuận, theo đó, thay vì có quyền thỏa thuận
với “người
phải thi hành án” thì Luật quy định họ có quyền thỏa thuận với “đương
sự khác”, việc
sửa đổi đảm bảo chặt chẽ hơn về mặt chủ thể trong trường hợp vụ việc
có nhiều người
được thi hành án hoặc nhiều người phải thi hành án.
- Bổ sung
quyền “yêu cầu Tòa án giải thích bản án, quyết định tuyên không
rõ, khó thi
hành”.
- Bổ sung
quyền “Yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thi hành án
dân sự xác
nhận kết quả thi hành án theo quy định của pháp luật.”. Đây là quyền đã
được quy định
tại Điều 53 Luật THADS năm 2008, Luật THADS năm 2025 chỉ thiết
kế bổ sung
quyền này vào Điều về quyền của người được thi hành án.
- Bổ sung
quyền “Tạm ứng chi phí cưỡng chế thi hành án” của người được thi
hành án để
thuận lợi hơn trong công tác tổ chức cưỡng chế thi hành án khi chưa thu
được chi phí
cưỡng chế hoặc tạm ứng từ ngân sách nhà nước.
2. Nghĩa vụ
của người được thi hành án được quy định tại khoản 2 Điều 6 Luật
THADS năm
2025, cụ thể:
- Chấp hành
nghiêm chỉnh bản án, quyết định;
- Thực hiện
các quyết định, yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành
viên, văn
phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên trong thi hành án; cung cấp số
định danh, số
tài khoản ngân hàng hoặc phương tiện thanh toán khác theo yêu cầu
của cơ quan
thi hành án dân sự, Chấp hành viên, văn phòng thi hành án dân sự, Thừa
hành viên;
- Thông báo
cho cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, văn phòng thi
hành án dân
sự, Thừa hành viên khi có thay đổi về địa chỉ, nơi cư trú;
- Chịu chi
phí (nếu có) khi yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông
tin theo quy
định của pháp luật;
- Chịu phí,
chi phí thi hành án theo quy định của pháp luật.
So với Luật
THADS năm 2008, nghĩa vụ của người được thi hành án tại Luật
THADS năm
2025 có những nội dung sửa đổi, bổ sung như sau:
- Bổ sung
quy định người được thi hành án có nghĩa vụ cung cấp số định danh,
số tài khoản
ngân hàng hoặc phương tiện thanh toán khác theo yêu cầu của cơ quan
thi hành án
dân sự, Chấp hành viên, văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên.
13
Quy định này
nhằm tạo sự thuận lợi trong việc thực hiện phương thức thông báo qua
phương tiện
điện tử và phương thức thanh toán qua chuyển khoản được nhanh chóng,
thuận lợi,
rút ngắn thời gian, giảm chi phí.
- Bổ sung
quy định người được thi hành án có nghĩa vụ chịu chi phí (nếu có)
khi yêu cầu
cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin theo quy định của pháp luật
để phù hợp với
thực tiễn và các quy định pháp luật có liên quan.
Câu 10. Người phải thi hành án có những quyền, nghĩa vụ nào quy định tại Luật Thi hành án dân sự năm 2025?
Đáp:
1. Quyền của
người phải thi hành án được quy định tại khoản 1 Điều 7 Luật
THADS năm
2025, cụ thể:
- Lựa chọn
cơ quan thi hành án dân sự hoặc văn phòng thi hành án dân sự để
yêu cầu thi
hành án theo quy định của Luật này;
- Quyền quy
định tại các điểm c, d, đ, g, h và m khoản 1 Điều 6 của Luật này, bao
gồm: + Được
thông báo về thi hành án theo quy định của Luật này;
+ Thỏa thuận
với các đương sự khác, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về
việc thi
hành án;
+ Yêu cầu
Tòa án xác định, phân chia quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản thi
hành án; yêu
cầu Tòa án sửa chữa, bổ sung bản án, quyết định khi phát hiện lỗi rõ ràng
về chính tả,
về số liệu do nhầm lẫn hoặc tính toán sai; yêu cầu Tòa án giải thích bản án,
quyết định
tuyên không rõ, khó thi hành; khởi kiện dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của
mình trong trường hợp có tranh chấp về tài sản liên quan đến thi hành án;
+ Yêu cầu
thay đổi Chấp hành viên trong trường hợp có căn cứ cho rằng Chấp
hành viên
không vô tư khi làm nhiệm vụ;
+ Yêu cầu cơ
quan thi hành án dân sự, văn phòng thi hành án dân sự xác nhận kết
quả thi hành
án theo quy định của pháp luật. Việc yêu cầu xác nhận kết quả thi hành án
được thực hiện
trên môi trường số hoặc trực tiếp nộp đơn hoặc trình bày bằng lời nói hoặc
gửi đơn qua
đường bưu điện;
+ Khiếu nại,
tố cáo về thi hành án.
- Chuyển
giao nghĩa vụ thi hành án cho người khác theo quy định của Luật
này;
- Ủy quyền
cho người khác yêu cầu thi hành án, yêu cầu xác nhận kết quả thi
hành án và
các trường hợp khác được ủy quyền theo quy định của Luật này;
- Được xét
miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án; được xét miễn, giảm phí và chi
phí cưỡng chế
thi hành án theo quy định của pháp luật.
14
So với Luật
THADS năm 2008, quyền của người phải thi hành án tại Luật
THADS năm
2025 có những nội dung sửa đổi, bổ sung như sau:
- Quy định bổ
sung về quyền lựa chọn cơ quan THADS hoặc văn phòng
THADS để yêu
cầu tổ chức thi hành án.
- Sửa đổi, bổ
sung về quyền thỏa thuận, theo đó, thay vì có quyền thỏa thuận
với “người
được thi hành án” thì Luật quy định họ có quyền thỏa thuận với “đương
sự khác”, việc
sửa đổi đảm bảo chặt chẽ hơn về mặt chủ thể trong trường hợp vụ việc
có nhiều người
được thi hành án hoặc nhiều người phải thi hành án.
- Bổ sung
quyền “yêu cầu Tòa án giải thích bản án, quyết định tuyên không
rõ, khó thi
hành”.
- Bổ sung
quyền “Yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thi hành án
dân sự xác
nhận kết quả thi hành án theo quy định của pháp luật.”. Đây là quyền đã
được quy định
tại Điều 53 Luật THADS năm 2008, Luật THADS năm 2025 chỉ thiết
kế bổ sung
quyền này vào Điều về quyền của người được thi hành án.
- Bổ sung
quy định người phải thi hành án được xét miễn, giảm “phí thi hành
án” do tại
khoản 1 Điều 53 Luật THADS năm 2025 quy định: “Đương sự yêu cầu thi
hành án phải
nộp phí thi hành án theo quy định của pháp luật.”. Trong trường hợp
người phải
thi hành án là người yêu cầu thi hành án thì sẽ phải có nộp phí thi hành
án, nên sẽ
phát sinh quyền được xét miễn, giảm phí thi hành án.
2. Nghĩa vụ
của người phải thi hành án được quy định tại khoản 2 Điều 7 Luật
THADS năm
2025, cụ thể:
- Thi hành đầy
đủ, kịp thời bản án, quyết định; thực hiện các quyết định, yêu
cầu của cơ
quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, văn phòng thi hành án dân sự,
Thừa hành
viên trong thi hành án;
- Cung cấp số
định danh; kê khai trung thực tài khoản, tài sản, điều kiện thi
hành án;
cung cấp đầy đủ thông tin, tài liệu, giấy tờ có liên quan đến tài sản của mình
khi có yêu cầu
của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, văn phòng thi hành
án dân sự,
Thừa hành viên và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc kê khai, cung
cấp thông
tin đó;
- Thông báo
cho cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, văn phòng thi
hành án dân
sự, Thừa hành viên khi có thay đổi về địa chỉ, nơi cư trú;
- Chịu phí,
chi phí thi hành án theo quy định của pháp luật.
So với Luật
THADS năm 2008, nghĩa vụ của người phải thi hành án tại Luật
THADS năm
2025 có những nội dung sửa đổi, bổ sung như sau:
- Bổ sung
quy định nghĩa vụ của người phải thi hành án trong việc “cung cấp
số định
danh”
15
- Bên cạnh
nghĩa vụ phải chịu chi phí cưỡng chế thi hành án, Luật THADS
2025 đã bổ
sung quy định người phải thi hành án phải chịu “phí thi hành án” trong
trường hợp
người đó yêu cầu cơ quan THADS tổ chức thi hành án (khoản 1 Điều 53
Luật THADS
2025).
Câu 11. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có những quyền, nghĩa vụ nào quy định tại Luật Thi hành án dân sự năm 2025?
Đáp:
1. Quyền của
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quy định tại khoản
1 Điều 8 Luật
THADS năm 2025, cụ thể:
- Được thông
báo, tham gia vào việc thi hành án mà mình có liên quan theo
quy định của
pháp luật;
- Yêu cầu
Tòa án xác định, phân chia quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản thi
hành án; yêu
cầu Tòa án sửa chữa, bổ sung bản án, quyết định khi phát hiện lỗi rõ
ràng về
chính tả, về số liệu do nhầm lẫn hoặc tính toán sai; yêu cầu Tòa án giải thích
bản án, quyết
định tuyên không rõ, khó thi hành; khởi kiện dân sự để bảo vệ quyền,
lợi ích hợp
pháp của mình trong trường hợp có tranh chấp về tài sản liên quan đến
thi hành án;
- Khiếu nại,
tố cáo về thi hành án.
So với Luật
THADS năm 2008, quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan tại Luật
THADS năm 2025 có những nội dung sửa đổi, bổ sung như sau:
- Sửa đổi, bổ
sung về quyền được thông báo, tham gia vào “việc thi hành án”
thay vì chỉ
quy định quyền được thông báo, tham gia vào “việc thực hiện biện pháp
bảo đảm, biện
pháp cưỡng chế thi hành án” như Luật THADS năm 2008, quy định
này nhằm đảm
bảo quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong tất cả các
khâu của quá
trình tổ chức thi hành án.
- Bổ sung
quyền “yêu cầu Tòa án giải thích bản án, quyết định tuyên không
rõ, khó thi
hành”.
2. Nghĩa vụ
của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quy định tại
khoản 2 Điều
8 Luật THADS năm 2025, cụ thể:
- Thực hiện
các quyết định, yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành
viên, văn
phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên trong thi hành án;
- Thông báo
cho cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, văn phòng thi
hành án dân
sự, Thừa hành viên khi có thay đổi về địa chỉ, nơi cư trú;
- Cung cấp
thông tin liên quan đến việc thi hành án theo yêu cầu của cơ quan
thi hành án
dân sự, Chấp hành viên, văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên.
16
So với Luật
THADS năm 2008, nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan tại Luật
THADS năm 2025 đã bổ sung thêm nghĩa vụ “Cung cấp thông tin liên
quan đến việc
thi hành án theo yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành
viên, văn
phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên.” nhằm xác định rõ trách nhiệm,
nghĩa vụ của họ trong việc cung cấp thông tin liên quan đến việc thi hành án theo yêu cầu của người có thẩm quyền tạo thuận lợi cho công tác tổ chức thi hành án.
Câu 12. Những
hành vi nào bị nghiêm cấm trong thi hành án dân sự?
Đáp:
Tại Điều 16 Luật THADS năm 2025 quy định các hành vi bị cấm trong thi hành án dân sự, cụ thể như sau:
1. Nghiêm cấm
cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện các hành vi sau đây:
- Không chấp hành bản án, quyết định; không chấp hành các quyết định, yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên; chống đối, trì hoãn hoặc có hành vi gây khó khăn, cản trở quá trình tổ chức thi hành án;
- Nhận hối lộ;
chiếm đoạt, sử dụng trái phép vật chứng, tiền, tài sản thi hành
án; phá hủy
niêm phong, tiêu dùng, đánh tráo, cất giấu, hủy hoại, tẩu tán vật chứng,
tài sản tạm
giữ, thay đổi hiện trạng, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản thi
hành án;
- Cố ý không
ra quyết định về thi hành án hoặc ra quyết định về thi hành án
trái pháp luật;
áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án trái pháp luật;
- Lợi dụng,
lạm dụng chức vụ, quyền hạn cản trở, can thiệp trái pháp luật việc
giải quyết
việc thi hành án hoặc lợi dụng ảnh hưởng của mình tác động đến người có
trách nhiệm
thi hành án; cố ý thi hành trái nội dung bản án, quyết định; lợi dụng, lạm
dụng chức vụ,
quyền hạn để thi hành trái pháp luật, trì hoãn việc thi hành án;
- Giả mạo,
làm sai lệch văn bản, hồ sơ, tài liệu, thông tin, dữ liệu điện tử để
trốn tránh
nghĩa vụ thi hành án hoặc kéo dài thời gian tổ chức thi hành án; làm lộ
thông tin hoặc
lợi dụng, lạm dụng thông tin về tài khoản, thu nhập, tài sản của người
phải thi
hành án để sử dụng trái phép hoặc làm ảnh hưởng đến việc thi hành án;
- Xâm phạm,
đe doạ xâm phạm an ninh, an toàn, trật tự đối với trụ sở làm việc
của cơ quan
thi hành án và địa điểm diễn ra các hoạt động thi hành án;
- Khiếu nại,
tố cáo, phản ánh, lan truyền thông tin biết rõ là sai sự thật nhằm
kích động,
vu cáo, vu khống, xúc phạm uy tín, sự tôn nghiêm, danh dự, nhân phẩm
của cơ quan,
tổ chức, người thi hành công vụ trong hoạt động thi hành án;
- Thiếu
trách nhiệm, cố ý chậm trễ trong lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện công tác
bảo vệ cơ quan, tổ chức, người thi hành công vụ trong hoạt động thi hành án;
- Xâm phạm
tính mạng, sức khỏe, uy tín, danh dự, nhân phẩm, tài sản của
Chấp hành
viên, Thừa hành viên, những người khác tham gia vào hoạt động thi hành
án hoặc người
thân của họ;
- Trốn tránh
việc nộp phí thi hành án hoặc các khoản phải nộp khác.
2. Nghiêm cấm
Chấp hành viên thực hiện các hành vi sau đây:
- Hành vi
quy định tại các điểm b, c, d và đ khoản 1 Điều này;
- Những việc
mà pháp luật quy định công chức không được làm;
- Vi phạm
chuẩn mực đạo đức Chấp hành viên;
- Trực tiếp
tổ chức việc thi hành án liên quan đến quyền, lợi ích của bản thân
và của vợ,
chồng, con đẻ, con nuôi của Chấp hành viên; cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ
nuôi, ông nội,
bà nội, ông ngoại, bà ngoại, bác, chú, cậu, cô, dì và anh, chị, em ruột
của Chấp
hành viên, của vợ hoặc chồng của Chấp hành viên; cháu ruột mà Chấp
hành viên là
ông, bà, bác, chú, cậu, cô, dì.
3. Nghiêm cấm
Thừa hành viên thực hiện các hành vi sau đây:
- Hành vi
quy định tại các điểm b, d và đ khoản 1 Điều này;
- Vi phạm
chuẩn mực đạo đức hành nghề Thừa hành viên;
- Lợi dụng,
lạm dụng nhiệm vụ, quyền hạn được giao, sử dụng thông tin được
cung cấp để
đe dọa, nhũng nhiễu hoặc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật khác đối
với cơ quan,
tổ chức, cá nhân trong quá trình tổ chức thi hành án;
- Trực tiếp
tổ chức việc thi hành án liên quan đến quyền, lợi ích của bản thân
và của vợ,
chồng, con đẻ, con nuôi của Thừa hành viên; cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ
nuôi, ông nội,
bà nội, ông ngoại, bà ngoại, bác, chú, cậu, cô, dì và anh, chị, em ruột
của Thừa
hành viên, của vợ hoặc chồng của Thừa hành viên; cháu ruột mà Thừa hành
viên là ông,
bà, bác, chú, cậu, cô, dì;
- Đồng thời
hành nghề tại 02 văn phòng thi hành án dân sự trở lên; đồng thời
là luật sư,
công chứng viên, quản tài viên, đấu giá viên, giám định viên, thẩm định
viên về giá.
Đây là quy định
mới của Luật THADS năm 2025 so với Luật THADS năm
2008, trên
cơ sở kế thừa các quy định của Luật THADS năm 2008 (Điều 11. Trách
nhiệm phối hợp
của cơ quan, tổ chức, cá nhân với cơ quan thi hành án dân sự, Chấp
hành viên;
Điều 21. Những việc Chấp hành viên không được làm; Điều 165. Xử lý
vi phạm); đồng
thời, thể chế hóa quy định của Quy định số 183-QĐ/TW ngày
18/9/2024 của
Bộ Chính trị về bảo vệ cơ quan, tổ chức, người thi hành công vụ trong
hoạt động điều
tra, truy tố, xét xử, thi hành án.
Việc bổ sung
Điều 16 trong Luật THADS năm 2025 với việc quy định đầy đủ,
phân định rõ
các nhóm chủ thể (cơ quan, tổ chức, cá nhân; Chấp hành viên; Thừa
18
hành viên)
và hệ thống hóa cụ thể các hành vi bị nghiêm cấm là hết sức cần thiết và
có ý nghĩa
thực tiễn sâu sắc. Quy định này không chỉ khắc phục khoảng trống của
Luật THADS
năm 2008 khi chưa thiết lập một danh mục các hành vi bị cấm, mà còn
trực tiếp
đáp ứng yêu cầu phòng ngừa, phát hiện và xử lý các vi phạm phát sinh ngày
càng tinh vi
trong thực tiễn thi hành án. Đặc biệt, việc mở rộng các hành vi bị nghiêm
cấm sang các
lĩnh vực mới như dữ liệu điện tử, bảo mật thông tin, xung đột lợi ích,
chuẩn mực đạo
đức nghề nghiệp, hay hành vi lợi dụng ảnh hưởng, can thiệp trái pháp
luật đã tạo
hành lang pháp lý chặt chẽ hơn để kiểm soát quyền lực và phòng, chống
tiêu cực. Đồng
thời, quy định riêng đối với Chấp hành viên và Thừa hành viên góp
phần cá thể
hóa trách nhiệm, nâng cao tính chuyên nghiệp, liêm chính và kỷ luật
nghề nghiệp.
Qua đó, không chỉ tăng cường tính răn đe mà còn nâng cao hiệu lực,
hiệu quả tổ
chức thi hành án dân sự, bảo vệ an toàn cho người thi hành công vụ, bảo
đảm quyền và
lợi ích hợp pháp của các bên, đồng thời củng cố niềm tin của xã hội
đối với hoạt
động thi hành án và pháp luật.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét