Mục 3 ÁP DỤNG BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM, BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN

Mục 3

 

ÁP DỤNG BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM, BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN

Câu 71. Luật THADS năm 2025 có những quy định sửa đổi, bổ sung nào các

biện pháp bảo đảm thi hành án so với Luật THADS năm 2008?

 

81

 

Đáp:

Các biện pháp bảo đảm thi hành án được quy định tại Điều 66 Luật THADS

năm 2025, theo đó, so với Luật THADS năm 2008, có một số nội dung sửa đổi, bổ

sung như sau:

- Thứ nhất, Luật THADS năm 2025 đã quy định 04 biện pháp bảo đảm thi

hành án, trong đó, giữ nguyên tên gọi của biện pháp “tạm giữ tài sản, giấy tờ”, sửa

đổi, bổ sung tên gọi của 02 biện pháp: biện pháp “Phong toả tài khoản” thành “Phong

toả tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ”, biện pháp “Tạm dừng đăng ký, chuyển quyền

sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản” thành “Tạm ngừng giao dịch, tạm dừng

việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản” để

thống nhất, phù hợp với thực tiễn công tác tổ chức thi hành án và tính chất của các

tài sản được áp dụng biện pháp bảo đảm. Đồng thời, bổ sung 01 biện pháp bảo đảm

“Tạm hoãn xuất cảnh” để phù hợp với Luật Quản lý xuất cảnh, nhập cảnh của công

dân Việt Nam và Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài

tại Việt Nam (khoản 1 Điều 66).

- Thứ hai, bổ sung thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh là Thủ

trưởng cơ quan THADS có quyền tự mình hoặc theo yêu cầu bằng văn bản của đương

sự áp dụng ngay biện pháp bảo đảm tạm hoãn xuất cảnh để phù hợp với Luật xuất

cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam và Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư

trú của người nước ngoài tại Việt Nam (khoản 2 Điều 66).

- Thứ ba, bổ sung quy định về việc sau khi ra quyết định áp dụng biện pháp

bảo đảm thì trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày có đủ căn cứ áp dụng biện pháp cưỡng

chế thì Chấp hành viên áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định của Luật THADS

năm 2025 thay vì quy định tại từng biện pháp bảo đảm như quy định hiện hành.

 

Câu 72. Luật THADS năm 2025 có những quy định sửa đổi, bổ sung nào về

biện pháp bảo đảm phong toả tài khoản so với Luật THADS năm 2008?

Đáp:

Trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp bảo đảm “Phong toả tài khoản, tài sản ở

nơi gửi giữ” được quy định tại Điều 67 Luật THADS năm 2025, so với Luật THADS

năm 2008 có một số nội dung sửa đổi, bổ sung như sau:

- Thứ nhất, về hình thức ban hành Quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm:

Luật THADS năm 2008 chỉ quy định việc Chấp hành viên ban hành Quyết định

phong toả tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ. Trong khi đó, Luật THADS năm 2025 quy

định rõ Chấp hành viên ban hành Quyết định phong toả tài khoản khi người phải thi

hành án có tài khoản và ban hành Quyết định phong toả tài sản khi người phải thi

hành án có tài sản ở nơi gửi giữ. Về mặt bản chất không có thay đổi nhưng Chấp

hành viên cần lưu ý trong việc sử dụng biểu mẫu áp dụng.

 

82

 

- Thứ hai, về nội dung quyết định phong toả tài khoản: Luật THADS năm 2025

đã có quy định rất mới, khác so với Luật THADS năm 2008, cụ thể:

+ Luật THADS năm 2008 chỉ xác định việc phong toả tài khoản đối với tài

sản là tiền trong tài khoản của người phải thi hành án. Trong khi đó, Luật THADS

năm 2025 xác định tài sản trong tài khoản bao gồm: tiền, tài sản số, tài sản khác trong

tài khoản.

+ Luật THADS năm 2008 quy định Quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản ở

nơi gửi giữ phải xác định rõ số tiền, tài sản bị phong tỏa. Điều 13 Nghị định số

62/2015/NĐ-CP quy định việc áp dụng biện pháp bảo đảm, cưỡng chế thi hành án

phải tương ứng nghĩa vụ phải thi hành. Do đó, căn cứ kết quả xác minh, Chấp hành

viên sẽ ban hành Quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm đối với số tiền tương ứng

nghĩa vụ, trường hợp số tiền trong tài khoản nhỏ hơn nghĩa vụ thì ra quyết định phong

toả đối với số tiền đang có trong tài khoản của người phải thi hành án. Trong khi đó,

Luật THADS năm 2025 đã quy định, nội dung quyết định phong toả tài khoản phải

xác định rõ số tiền “phải thi hành án”; nội dung quyết định phong toả tài sản thì giữ

nguyên quy định hiện hành. Đồng thời, quy định “cơ quan, tổ chức, cá nhân đang

quản lý tài khoản phải thực hiện phong toả tiền, tài sản số, tài sản khác trong tài

khoản của người phải thi hành án theo quy định của Chính phủ; trường hợp số tiền,

giá trị tài sản trong tài khoản ít hơn nghĩa vụ của người phải thi hành án hoặc không

xác định được giá trị tài sản trong tài khoản thì phong toả toàn bộ số yiền, tgài sản

số, tài sản khác trong tài khoản. Như vậy, chỉ cần xác minh trong tài khoản của người

phải thi hành án có tiền, Chấp hành viên chỉ cần ban hành quyết định phong toả mà

nội dung quyết định chỉ cần xác định số tiền phải thi hành án. Trách nhiệm thực hiện

phong toả đối với số tiền cụ thể sẽ do cơ quan, tổ chức, cá nhân quản lý tài khoản

thực hiện theo quy định pháp luật.

- Thứ ba, Luật THADS năm 2025 đã bổ sung quy định về trách nhiệm của cơ

quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài khoản, tài sản: “5. Cơ quan, tổ chức, cá nhân

đang quản lý tài khoản, tài sản phải thực hiện ngay quyết định, yêu cầu của Chấp

hành viên về phong tỏa tài khoản, tài sản. Trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân

không thực hiện quyết định, yêu cầu của Chấp hành viên dẫn đến đương sự tẩu tán

tài sản thì bị xử lý theo quy định của pháp luật, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.”

- Thứ tư, Luật THADS năm 2025 đã không quy định nội dung sau khi ban

hành quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm này thì Chấp hành viên xử lý như thế

nào (tại khoản 3 Điều 67 Luật hiện hành) do đã quy định nội dung này tại nguyên tắc

chung tại khoản 4 Điều 66 và Chính phủ sẽ hướng dẫn cụ thể nội dung này.

 

Câu 73. Luật THADS năm 2025 có những quy định sửa đổi, bổ sung nào về

biện pháp bảo đảm tạm ngừng giao dịch, tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở

hữu, quyền sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản so với Luật THADS năm 2008?

 

83

 

Đáp:

Trình tự, thủ tục thực hiện biện pháp bảo đảm tạm ngừng giao dịch, tạm dừng

việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản được

quy định tại Điều 68 Luật THADS năm 2025. So với Luật THADS năm 2008 có một

số nội dung sửa đổi, bổ sung như sau:

- Thứ nhất, sửa đổi, bổ sung tên biện pháp từ “Tạm dừng đăng ký, chuyển

quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản” tại Luật THADS năm 2008 thành

“Tạm ngừng giao dịch, tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng,

thay đổi hiện trạng tài sản” để thống nhất, phù hợp với thực tiễn công tác tổ chức thi

hành án và tính chất của các tài sản được áp dụng biện pháp bảo đảm, phù hợp với

mục đích cần ngăn chặn đương sự “ngăn chặn đương sự chuyển quyền sở hữu, quyền

sử dụng, tẩu tán, hủy hoại, thực hiện các giao dịch về tài sản hoặc thay đổi hiện trạng

tài sản, trốn tránh việc thi hành án.”

- Thứ hai, không quy định nội dung “Trường hợp cần thiết,Chấp hành viên

phải xác minh, làm rõ hoặc yêu cầu Tòa án, cơ quan có thẩm quyền xác định quyền

sở hữu, sử dụng tài sản để thi hành án, giải quyết tranh chấp tài sản; yêu cầu hủy giấy

tờ, giao dịch liên quan đến tài sản theo quy định của pháp luật.” tại khoản 3 Điều 69

Luật THADS năm 2008 bởi nội dung này đã được đưa vào quy định tại Điều 39 Luật

THADS năm 2025 về xác định tài sản và xử lý tranh chấp tài sản của người phải thi

hành án.

- Thứ ba, bổ sung quy định trách nhiệm của người phải thi hành án, người

đang quản lý, sử dụng tài sản tại khoản 4 Điều 68 Luật THADS năm 2025, theo đó:

“4. Người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng tài sản không được thực

hiện việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, chuyển quyền sử dụng đất, chuyển đổi,

chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng tài sản và

các giao dịch khác đối với tài sản đó; gây hư hỏng, đánh tráo, làm mất, hủy hoại tài

sản, thay đổi kết cấu, thay đổi hiện trạng tài sản cho đến khi nhận được quyết định

khác của Chấp hành viên.

Trường hợp người phải thi hành án, cơ quan, tổ chức, cá nhân không thực hiện

quyết định, yêu cầu của Chấp hành viên dẫn đến tài sản bị chuyển quyền sở hữu,

quyền sử dụng, tẩu tán, hủy hoại, thực hiện các giao dịch hoặc thay đổi hiện trạng thì

bị xử lý theo quy định của pháp luật, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.”

- Thứ tư, Luật THADS năm 2025 đã không quy định nội dung sau khi ban

hành quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm này thì Chấp hành viên xử lý như thế

nào (tại khoản 4 Điều 69 Luật hiện hành) do đã quy định nội dung này tại nguyên tắc

chung tại khoản 4 Điều 66 Luật THADS năm 2025 và khoản 2 Điều 95 Luật THADS

năm 2025, cụ thể:

 

84

 

+ Khoản 4 Điều 66 quy định: “4. Sau khi ra quyết định áp dụng biện pháp bảo

đảm, trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày có đủ căn cứ áp dụng biện pháp cưỡng chế

thì Chấp hành viên áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định của Luật này.”

+ Khoản 2 Điều 95 quy định: “2. Người có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo

đảm quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 66 của Luật này phải ra quyết định

chấm dứt áp dụng biện pháp bảo đảm trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày có

một trong các căn cứ sau đây:

a) Người yêu cầu áp dụng biện pháp bảo đảm đề nghị chấm dứt;

b) Người phải thi hành án đã thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án, nộp phí và

thanh toán các chi phí thi hành án theo quy định của Luật này;

c) Tài sản, giấy tờ không thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng của người phải

thi hành án;

d) Trường hợp khác theo quy định của pháp luật.”

 

Câu 74. Luật THADS năm 2025 có những quy định sửa đổi, bổ sung nào về

biện pháp bảo đảm tạm giữ tài sản, giấy tờ so với Luật THADS năm 2008?

Đáp:

Trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ được quy định tại

Điều 69 Luật THADS năm 2025. So với Luật THADS năm 2008, Luật THADS năm

2025 cơ bản kế thừa quy định hiện hành, bên cạnh đó sửa đổi, bổ sung nội dung như

sau:

- Thứ nhất, quy định cụ thể về căn cứ áp dụng biện pháp, theo đó: “1. Tạm giữ

tài sản, giấy tờ được áp dụng trong trường hợp phát hiện tài sản, giấy tờ liên quan

đến việc thi hành án đang do đương sự, tổ chức, cá nhân khác quản lý, sử dụng nhằm

ngăn chặn đương sự chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng, tẩu tán, hủy hoại, thay

đổi hiện trạng tài sản, trốn tránh việc thi hành án.” thay vì chỉ xác định Chấp hành

viên có quyền tạm giữ tài sản, giấy tờ liên quan đến việc thi hành án mà đương sự,

tổ chức, cá nhân khác đang quản lý, sử dụng như Luật hiện hành.

- Thứ hai, không quy định về nội dung cụ thể về lập biên bản tạm giữ tài sản,

giấy tờ tại khoản 3 Điều 68 Luật hiện hành mà nội dung này sẽ được Chính phủ

hướng dẫn chi tiết tại Nghị định.

- Thứ ba, không quy định nội dung “Trường hợp cần thiết, Chấp hành viên

phải xác minh, làm rõ hoặc yêu cầu Tòa án, cơ quan có thẩm quyền xác định người

có quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản, giấy tờ tạm giữ.” tại khoản 4 Điều 68 Luật

THADS năm 2008 bởi nội dung này đã được đưa vào quy định tại Điều 39 Luật

THADS năm 2025 về xác định tài sản và xử lý tranh chấp tài sản của người phải thi

hành án.

 

85

 

- Thứ tư, Luật THADS năm 2025 đã không quy định nội dung sau khi ban

hành quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm này thì Chấp hành viên xử lý như thế

nào (tại khoản 6 Điều 68 Luật hiện hành) do đã quy định nội dung này tại nguyên tắc

chung tại khoản 4 Điều 66 Luật THADS năm 2025 và khoản 2 Điều 95 Luật THADS

năm 2025, cụ thể:

+ Khoản 4 Điều 66 quy định: “4. Sau khi ra quyết định áp dụng biện pháp bảo

đảm, trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày có đủ căn cứ áp dụng biện pháp cưỡng chế

thì Chấp hành viên áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định của Luật này.”

+ Khoản 2 Điều 95 quy định: “2. Người có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo

đảm quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 66 của Luật này phải ra quyết định

chấm dứt áp dụng biện pháp bảo đảm trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày có

một trong các căn cứ sau đây:

a) Người yêu cầu áp dụng biện pháp bảo đảm đề nghị chấm dứt;

b) Người phải thi hành án đã thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án, nộp phí và

thanh toán các chi phí thi hành án theo quy định của Luật này;

c) Tài sản, giấy tờ không thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng của người phải

thi hành án;

d) Trường hợp khác theo quy định của pháp luật.”

 

Câu 75. Luật THADS năm 2025 có những quy định sửa đổi, bổ sung nào về

biện pháp bảo đảm tạm hoãn xuất cảnh so với Luật THADS năm 2008?

Đáp:

Đây là biện pháp bảo đảm mới, được bổ sung so với Luật THADS năm 2008.

Trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp này được quy định tại Điều 70 Luật THADS năm

2025, cụ thể:

- Căn cứ áp dụng: khoản 1 Điều 70 quy định người phải thi hành án chưa thực

hiện xong nghĩa vụ thi hành án theo bản án, quyết định thì có thể bị tạm hoãn xuất

cảnh, tuy nhiên, Luật THADS năm 2025 cũng quy định một số trường hợp ngoại lệ,

người phải thi hành án có thể không bị tạm hoãn xuất cảnh, cụ thể:

+ Trường hợp người phải thi hành nghĩa vụ về tiền, tài sản mà có đủ tài sản để

thực hiện nghĩa vụ và đồng ý để cơ quan thi hành án dân sự giao, xử lý tài sản để thi

hành án, đồng thời đã ủy quyền cho người khác thay mặt họ giải quyết việc thi hành

án liên quan đến tài sản đó;

+ Nghĩa vụ thi hành án đã được chuyển giao theo quy định của Luật này;

+ Khi người phải thi hành án bị Tòa án có thẩm quyền ra quyết định dẫn độ

theo quy định của Luật Dẫn độ;

 

86

 

+ Trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

- Về việc thông báo quyết định tạm hoãn xuất cảnh: Quyết định tạm hoãn xuất

cảnh phải được thông báo ngay cho cơ quan có thẩm quyền quản lý xuất nhập cảnh

(khoản 2 Điều 70).

- Việc tạm hoãn xuất cảnh, gia hạn, giải tỏa, hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh được

thực hiện theo quy định của pháp luật về xuất nhập cảnh và quy định của Chính phủ

(khoản 3 Điều 70).

 

Câu 76. Luật THADS năm 2025 có những quy định sửa đổi, bổ sung nào về

các biện pháp cưỡng chế thi hành án so với Luật THADS năm 2008?

Đáp:

Quy định chung về áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án được quy

định tại Điều 71, Điều 72 Luật THADS năm 2025. Các quy định này được xây dựng

trên cơ sở kế thừa, sửa đổi, bổ sung các quy định tại Điều 46, Điều 70, Điều 71, Điều

72 của Luật THADS năm 2008, cụ thể như sau:

- Thứ nhất, về các biện pháp cưỡng chế thi hành án (Điều 71): Luật THADS

năm 2025 quy định có 06 biện pháp cưỡng chế thi hành án, trong đó: (i) giữ nguyên

04 tên biện pháp: (1) Trừ vào thu nhập; (2) Khai thác tài sản; (3) Kê biên, xử lý tài

sản, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ; (4) Buộc thực hiện hoặc không được

thực hiện công việc nhất định; (ii) sửa đổi tên gọi của 02 biện pháp: (1) biện pháp

“Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi

hành án” thành “Khấu trừ tiền trong tài khoản, thu tiền, xử lý giấy tờ có giá”; (2) biện

pháp “Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ” thành “Giao tài sản,

vật, giấy tờ”. Lý do: để phù hợp với thực tiễn tổ chức thi hành án, thẩm quyền xử lý

tài sản của cơ quan THADS, Chấp hành viên và phù hợp với tính chất của các tài sản

bị áp dụng biện pháp cưỡng chế.

- Thứ hai, bổ sung quy định về việc áp dụng ngay biện pháp cưỡng chế (khoản

1 Điều 72), theo đó: “1. Hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 36 của Luật này,

người phải thi hành án có điều kiện mà không tự nguyện thi hành án thì bị cưỡng

chế.

Trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, hủy hoại

tài sản hoặc hành vi khác nhằm trốn tránh việc thi hành án thì Thủ trưởng cơ quan

thi hành án dân sự, Chấp hành viên có quyền áp dụng ngay biện pháp bảo đảm, biện

pháp cưỡng chế thi hành án theo quy định của Luật này” trên cơ sở nội dung từ Điều

46 Luật THADS 2008.

- Thứ ba, về căn cứ ra quyết định cưỡng chế thi hành án (khoản 2 Điều 72): cơ

bản giữ nguyên quy định tại Điều 70 Luật THADS năm 2008, cụ thể: Luật THADS

 

87

 

năm 2025 vẫn giữ nguyên quy định căn cứ ra quyết định cưỡng chế gồm (1) Bản án,

quyết định; (2) Quyết định thi hành án. Tuy nhiên, lược bỏ căn cứ là “Quyết định

cưỡng chế thi hành án, trừ trường hợp bản án, quyết định đã tuyên kê biên, phong

tỏa tài sản, tài khoản và trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp

tạm thời của Tòa án.” tại khoản 3 Điều 70 Luật THADS năm 2008, thay vào đó, bổ

sung căn cứ “Người phải thi hành án có điều kiện mà không tự nguyện thi hành án”

là căn cứ để ra quyết định cưỡng chế bởi quy định này đang quy định về căn cứ “ra

quyết định cưỡng chế” chứ không phải căn cứ để “cưỡng chế thi hành án” như Luật

THADS năm 2008.

- Thứ tư, Luật THADS năm 2025 đã thu hút quy định tại Điều 13 Nghị định

số 62/2015/NĐ-CP, đồng thời, sửa đổi, bổ sung quy định, theo đó, tại khoản 3 Điều

72 Luật THADS năm 2025 quy định việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án

phải tương ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án và các chi phí thi hành án.

Đồng thời, quy định bổ sung các trường hợp không áp dụng nguyên tắc tương ứng,

cụ thể:

+ Tài sản không thể phân chia được hoặc việc phân chia làm giảm đáng kể giá

trị của tài sản;

+ Tài sản đã được bản án, quyết định tuyên kê biên để bảo đảm thi hành án;

+ Tài sản bảo đảm đã được bản án, quyết định tuyên xử lý để thi hành án;

+ Người phải thi hành án tự nguyện đề nghị kê biên tài sản cụ thể trong số

nhiều tài sản mà không gây trở ngại cho việc thi hành án và tài sản đó đủ để thi hành

án và các chi phí liên quan;

+ Trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

- Thứ năm, bổ sung quy định tại khoản 4 Điều 72, theo đó: “4. Chấp hành viên

tổ chức cưỡng chế thi hành án khi có quyết định cưỡng chế thi hành án hoặc bản án,

quyết định đã tuyên kê biên tài sản.”.

- Thứ sáu, về việc lập kế hoạch cưỡng chế cần huy động lực lượng: cơ bản kế

thừa các quy định của Điều 72 Luật THADS năm 2008, một số nội dung sẽ được quy

định tại Nghị định quy định chi tiết (khoản 5, khoản 6 Điều 72). Bên cạnh đó, Luật

THADS năm 2025 đã quy định bổ sung: “7. Chấp hành viên dự trù chi phí cưỡng

chế và thông báo cho đương sự biết ít nhất 02 ngày làm việc trước ngày cưỡng chế

đã được ấn định, trừ trường hợp cần thiết phải cưỡng chế ngay.” (khoản 7 Điều 72).

 

Câu 77. Luật THADS năm 2025 có những quy định sửa đổi, bổ sung nào về

biện pháp cưỡng chế khấu trừ tiền trong tài khoản so với Luật THADS năm 2008?

Đáp:

 

88

 

Biện pháp khấu trừ tiền trong tài khoản được quy định tại Điều 73 Luật

THADS năm 2025, theo đó, cơ bản giữ nguyên quy định hiện hành tại Điều 76 Luật

THADS năm 2008, bên cạnh đó, chỉ bổ sung quy định trường hợp không thực hiện

khấu trừ tiền do pháp luật quy định. Nội dung này nhằm giải quyết vướng mắc do

pháp luật khác quy định không được khấu trừ.

Ví dụ:

Chấp hành viên không thể ra quyết định khấu trừ đối với khoản tiền trong tài

khoản của doanh nghiệp là người phải thi hành án nhưng đang bị Toà án thụ lý giải

quyết thủ tục phá sản, trừ trường hợp bản án, quyết định buộc doanh nghiệp, hợp tác

xã bồi thường về tính mạng, sức khỏe, danh dự hoặc trợ cấp thôi việc, trả lương cho

người lao động; quyết định kê biên tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã để sung vào

công quỹ nhà nước; bản án, quyết định buộc doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện

nghĩa vụ được bảo đảm bằng tài sản của bên thứ ba hoặc trường hợp khác theo quy

định của pháp luật;

 

Câu 78. Luật THADS năm 2025 có những quy định sửa đổi, bổ sung nào về

biện pháp cưỡng chế thu tiền của người phải thi hành án so với Luật THADS năm

2008?

Đáp:

Biện pháp cưỡng chế thu tiền của người phải thi hành án được quy định tại

Điều 74 Luật THADS năm 2025. Điều này được xây dựng trên cơ sở sắp xếp, hợp

nhất nội dung tại các Điều 79, 80, 81, 84 Luật THADS năm 2008 đều quy định về

thủ tục thu tiền của người phải thi hành án. Về nội dung, cơ bản tiếp tục kế thừa các

quy định của Luật THADS năm 2008, bên cạnh đó, có một số nội dung sửa đổi, bổ

sung như sau:

- Thứ nhất, thu hút quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 23 Nghị định số

62/2015/NĐ-CP về “Trường hợp người thứ ba đang giữ tiền của người phải thi hành

án không thực hiện yêu cầu của Chấp hành viên mà giao tiền đó cho người phải thi

hành án hoặc người khác dẫn đến việc không thể thi hành được cho người được thi

hành án thì người thứ ba phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật và bị

áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án cần thiết để thu tiền thi hành án” (khoản

3 Điều 74).

- Thứ hai, bổ sung quy định tại khoản 4 Điều 74 về thu tiền của người phải thi

hành án trong trường hợp phát hiện tổ chức, cá nhân khác phải trả tiền cho người

phải thi hành án theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật thì Chấp hành viên

thực hiện như sau:

+ Chấp hành viên yêu cầu tổ chức, cá nhân đó giao nộp tiền để thi hành án.

Nếu họ không thực hiện thì Chấp hành viên áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết

 

89

 

đối với tổ chức, cá nhân đó để thu tiền. Chi phí cưỡng chế trong trường hợp này do

tổ chức, cá nhân bị cưỡng chế chịu;

+ Trường hợp bản án, quyết định đang do cơ quan thi hành án dân sự khác thi

hành thì Chấp hành viên thông báo và đề nghị cơ quan thi hành án dân sự đó tổ chức

thi hành án theo quy định của pháp luật.

- Thứ ba, lược bỏ những nội dung về trình tự, thủ tục, hồ sơ tại khoản 2 Điều

79, đoạn 1 Điều 80, đoạn 2 Điều 81 Luật THADS năm 2008 về lập biên bản, cấp

biên lai thi hành án, nội dung này sẽ quy định tại Nghị định quy định chi tiết, hướng

dẫn thi hành Luật.

 

Câu 79. Luật THADS năm 2025 có những quy định sửa đổi, bổ sung nào về

biện pháp cưỡng chế thu giữ, xử lý giấy tờ có giá so với Luật THADS năm 2008?

Đáp:

Biện pháp cưỡng chế thu giữ, xử lý giấy tờ có giá được quy định tại Điều 75

Luật THADS năm 2025. Quy định này được xây dựng trên cơ sở sắp xếp, hợp nhất

nội dung tại các Điều 82, 83 Luật THADS năm 2008. Theo đó, nội dung giữ nguyên

các điều luật của Luật hiện hành, theo đó:

- Trường hợp phát hiện người phải thi hành án hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân

đang giữ giấy tờ có giá của người phải thi hành án thì Chấp hành viên ra quyết định

thu giữ giấy tờ đó để thi hành án (khoản 1 Điều 75).

- Người phải thi hành án hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân giữ giấy tờ có giá của

người phải thi hành án phải chuyển giao giấy tờ đó cho cơ quan thi hành án dân sự.

Trường hợp người phải thi hành án hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân giữ giấy tờ có giá

không giao giấy tờ cho cơ quan thi hành án dân sự thì Chấp hành viên yêu cầu cơ

quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền chuyển giao giá trị của giấy tờ đó để thi hành

án (khoản 2 Điều 75).

- Việc xử lý giấy tờ có giá thực hiện theo quy định của pháp luật (khoản 3

Điều 75).

 

Câu 80. Luật THADS năm 2025 có những quy định sửa đổi, bổ sung nào về

biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập so với Luật THADS năm 2008?

Đáp:

Biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập được quy định tại Điều 76 Luật THADS

năm 2025. Quy định này được xây dựng trên cơ sở sắp xếp, hợp nhất nội dung tại

Điều 78 Luật THADS năm 2008. Nội dung cơ bản giữ nguyên các điều luật của Luật

hiện hành, bên cạnh đó, sửa đổi, bổ sung đối với nội dung sau:

 

90

 

Tại khoản 3 Điều 78 Luật THADS năm 2008 quy định: “3. Chấp hành viên ra

quyết định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án. Mức cao nhất được trừ vào

tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động là 30% tổng số

tiền được nhận hàng tháng, trừ trường hợp đương sự có thỏa thuận khác. Đối với thu

nhập khác thì mức khấu trừ căn cứ vào thu nhập thực tế của người phải thi hành án,

nhưng phải đảm bảo điều kiện sinh hoạt tối thiểu của người đó và người được nuôi

dưỡng theo quy định của pháp luật.”. Tuy nhiên, để đảm bảo tính ổn định, lâu dài

của các quy định pháp luật, Luật THADS năm 2025 không quy định cụ thể về mức

cao nhất được khấu trừ mà chỉ quy định: “3. Khi khấu trừ, Chấp hành viên phải để

lại số tiền bảo đảm điều kiện sinh hoạt tối thiểu của người phải thi hành án và người

được nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật.”. Đồng thời, giao Chính phủ quy định

chi tiết về số tiền bảo đảm điều kiện sinh hoạt tối thiểu của người phải thi hành án và

người được nuôi dưỡng.

 

Câu 81. Luật THADS năm 2025 có những quy định sửa đổi, bổ sung nào về

biện pháp cưỡng chế khai thác tài sản so với Luật THADS năm 2008?

Đáp:

Biện pháp cưỡng chế khai thác tài sản được quy định tại Điều 77 Luật THADS

năm 2025. Quy định này được xây dựng trên cơ sở sắp xếp, hợp nhất các Điều 107,

108, 109 LuậtTHADS năm 2007 (đều quy định về thủ tục khai thác tài sản). Về nội

dung cơ bản giữ nguyên quy định hiện hành. Bên cạnh đó, Luật THADS năm 2025

có một số nội dung sửa đổi, bổ sung như sau:

- Thứ nhất, giảm thời hạn từ 30 ngày xuống còn 10 ngày kể từ ngày nhận được

yêu cầu của Chấp hành viên mà người phải thi hành án không ký hợp đồng để khai

thác với người khác thì Chấp hành viên kê biên, xử lý tài sản đó để thi hành án.

- Thứ hai, không quy định về nội dung chấm dứt việc cưỡng chế khai thác tài

sản tại Điều 77 Luật THADS năm 2025 mà quy định tại khoản 4, 5, 6 Điều 95 Luật

THADS về chấm dứt áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế và giải tỏa

kê biên tài sản, cụ thể:

“4. Chấp hành viên ra quyết định chấm dứt áp dụng biện pháp cưỡng chế khai

thác tài sản trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày có một trong các căn cứ sau

đây:

a) Việc khai thác tài sản không hiệu quả hoặc làm cản trở đến việc thi hành án;

b) Người phải thi hành án, người khai thác tài sản thực hiện không đúng yêu

cầu của Chấp hành viên về việc khai thác tài sản;

c) Người phải thi hành án đã thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án, nộp phí và

thanh toán các chi phí thi hành án hoặc trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

 

91

 

5. Trường hợp việc cưỡng chế khai thác tài sản chấm dứt theo quy định tại

điểm a và điểm b khoản 4 Điều này thì Chấp hành viên tiếp tục kê biên và xử lý tài

sản đó để thi hành án.

6. Việc trả lại tài sản, giấy tờ sau khi chấm dứt áp dụng biện pháp bảo đảm,

biện pháp cưỡng chế, giải tỏa kê biên thực hiện theo quy định của Chính phủ.”

 

Câu 82. Luật THADS năm 2025 có những quy định về việc ban hành quyết

định kê biên tài sản như thế nào?

Đáp:

Việc quyết định kê biên tài sản được quy định tại Điều 78 Luật THADS năm

2025. Quy định này được xây dựng trên cơ sở sắp xếp, hợp nhất nội dung của các

Điều 71, 84, 90, 94, 95, 97, 110, 111 Luật THADS năm 2008. Theo đó:

- Tại khoản 1 Điều 78 Luật THADS đã quy định về các trường hợp Chấp hành

viên ra quyết định kê biên tài sản, cụ thể:

+ Chấp hành viên ra quyết định kê biên tài sản của người phải thi hành án, kể cả

tài sản đang do người thứ ba giữ nếu tài sản đó được chuyển quyền sở hữu, quyền sử

dụng đất theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

+ Trường hợp người thứ ba đang giữ hoặc phải trả tài sản cho người phải thi

hành án mà tài sản đó đã được xác định bằng bản án, quyết định của Tòa án đang có

hiệu lực pháp luật thì Chấp hành viên vẫn được kê biên, xử lý để thi hành án.

+ Trường hợp người phải thi hành án chưa được cấp giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mà thuộc trường

hợp được cấp giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật về đất đai hoặc thuộc

diện phải thu hồi đất nhưng chưa có quyết định thu hồi đất hoặc trường hợp khác

được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì Chấp hành

viên vẫn được kê biên, xử lý để thi hành án.

- Tại khoản 2 Điều 78 Luật THADS đã quy định trường hợp Chấp hành viên

không ra quyết định kê biên tài sản, theo đó, trong trường hợp bản án, quyết định của

Tòa án đã tuyên kê biên tài sản hoặc trường hợp khác theo quy định của pháp luật thì

Chấp hành viên không ra quyết định kê biên tài sản.

Ví dụ: về trường hợp khác theo quy định pháp luật mà Chấp hành viên không

kê biên, ví dụ: Tài sản của bên phải thi hành án đang được sử dụng làm tài sản bảo

đảm cho khoản nợ xấu tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức

mua bán, xử lý nợ nhưng không được các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng

nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ có văn bản đồng ý cho cơ quan THADS kê

biên (theo quy định tại khoản 3 Điều 198b Luật Các tổ chức tín dụng)

 

92

 

- Tại khoản 3 Điều 78 Luật THADS đã quy định về việc ra quyết định kê biên

đối với một số loại tài sản cụ thể:

+ Thứ nhất, đối với tài sản là quyền sử dụng đất (điểm a khoản 3 Điều 78):

* Đối với tài sản là quyền sử dụng đất có tài sản gắn liền với đất thuộc quyền

sở hữu của người phải thi hành án thì phải kê biên cả quyền sử dụng đất và tài sản

gắn liền với đất.

* Trường hợp quyền sử dụng đất của người phải thi hành án có tài sản gắn liền

với đất mà tài sản đó thuộc quyền sở hữu của người khác thì Chấp hành viên chỉ kê

biên quyền sử dụng đất. Việc xử lý tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác thực

hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật này.

Đây là quy định kế thừa Điều 111 Luật THADS năm 2008 về kê biên quyền

sử dụng đất. Bên cạnh đó, Luật THADS năm 2025 bổ sung quy định “Việc xử lý tài

sản thuộc quyền sở hữu của người khác thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 81

của Luật này”. Theo đó, khoản 2 Điều 81 quy định: “2. Trường hợp có tài sản của

người khác mà không thuộc tài sản kê biên thì Chấp hành viên yêu cầu người có tài

sản di dời, tháo dỡ tài sản đó ra khỏi tài sản kê biên trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày

được thông báo. Hết thời hạn trên mà người có tài sản không di dời, tháo dỡ thì Chấp

hành viên thực hiện thủ tục thẩm định giá, xác định giá, bán tài sản đó theo quy định

tại Điều 82 và Điều 83 của Luật này. Trong thời gian chờ xử lý, tài sản đó được bảo

quản cùng tài sản đã kê biên và người có tài sản có quyền nhận lại tài sản sau khi

thanh toán các chi phí phát sinh.

Đối với tài sản không thể di dời, tháo dỡ hoặc việc di dời, tháo dỡ làm giảm đáng

kể giá trị tài sản thì được thẩm định giá, xác định giá, bán cùng tài sản đã kê biên.

Người có tài sản đó được hoàn trả tiền bán tài sản sau khi trừ chi phí bảo quản,

xử lý tài sản. Số tiền thu được từ việc bán tài sản được xử lý theo quy định tại khoản

1 Điều 59 của Luật này.”

* Trường hợp tài sản thi hành án là tài sản gắn liền với đất được Nhà nước cho

thuê thu tiền thuê đất hằng năm và quyền thuê trong hợp đồng thuê đất đó thì Chấp

hành viên kê biên khi có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật về đất đai.

* Trường hợp hiện trạng tài sản là quyền sử dụng đất khác với giấy chứng

nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, tài sản gắn liền với

đất thì Chấp hành viên kê biên, xử lý theo quy định của pháp luật.

+ Thứ hai, đối với tài sản là nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất (điểm

b, điểm c Điều 78):

* Trường hợp người phải thi hành án có cam kết xác nhận và chứng minh tài

sản là nhà ở là nơi ở duy nhất của người phải thi hành án và gia đình thì Chấp hành

viên chỉ kê biên khi người đó không có các tài sản khác hoặc có nhưng không đủ để

 

93

 

thi hành án, trừ trường hợp người phải thi hành án đồng ý kê biên nhà ở đó để thi

hành án hoặc trường hợp nhà ở được bản án, quyết định tuyên kê biên hoặc trường

hợp nhà ở là tài sản bảo đảm đã được bản án, quyết định tuyên xử lý để thi hành án;

* Trường hợp tài sản là nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất của người

phải thi hành án thì phải kê biên cả quyền sử dụng đất, trừ trường hợp quyền sử dụng

đất không được kê biên theo quy định của pháp luật hoặc việc tách rời tài sản kê biên

và đất không làm giảm đáng kể giá trị tài sản đó thì không phải kê biên cả quyền sử

dụng đất.

* Trường hợp nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với quyền sử dụng đất của

người khác thì Chấp hành viên chỉ kê biên nhà ở, công trình xây dựng và quyền sử

dụng đất nếu người có quyền sử dụng đất đồng ý. Trường hợp người có quyền sử

dụng đất không đồng ý thì chỉ kê biên nhà ở, công trình xây dựng của người phải thi

hành án nếu việc tách rời nhà ở, công trình xây dựng và đất không làm giảm đáng kể

giá trị tài sản.

+ Thứ ba, đối với tài sản đang cầm cố, thế chấp (điểm d khoản 3 Điều 78):

* Trường hợp người phải thi hành án không còn tài sản nào khác hoặc có tài

sản nhưng không đủ để thi hành án, Chấp hành viên có quyền kê biên tài sản của

người phải thi hành án đang cầm cố, thế chấp nếu giá trị của tài sản đó lớn hơn nghĩa

vụ được bảo đảm và chi phí thi hành án.

* Trường hợp tài sản của người phải thi hành án đang được bảo đảm cho khoản

nợ xấu tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì thực hiện theo quy

định của Luật Các tổ chức tín dụng.

+ Thứ tư, đối với tài sản mang lại hoa lợi (điểm đ khoản 3 Điều 78): Trường

hợp người phải thi hành án có tài sản mang lại hoa lợi thì Chấp hành viên kê biên

hoa lợi đó để bảo đảm thi hành án. Đối với hoa lợi là lương thực, thực phẩm thì khi

kê biên, Chấp hành viên phải để lại một phần để người phải thi hành án và gia đình

họ sinh sống theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 79 của Luật này;

+ Thứ năm, đối với tài sản là quyền sở hữu trí tuệ (điểm e khoản 3 Điều 78):

Trường hợp người phải thi hành án là chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ chuyển

quyền sử dụng quyền sở hữu trí tuệ cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác thì quyền sở

hữu trí tuệ vẫn bị kê biên.

Trường hợp nhằm bảo đảm mục tiêu quốc phòng, an ninh, dân sinh và lợi ích

của Nhà nước, xã hội mà Nhà nước quyết định chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ phải

chuyển giao quyền của mình cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác sử dụng trong thời

gian nhất định thì Chấp hành viên không được kê biên quyền sở hữu trí tuệ của người

phải thi hành án trong thời gian bắt buộc phải chuyển giao.

 

94

 

Chấp hành viên quyết định giao cho cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng, khai

thác quyền sở hữu trí tuệ. Cơ quan, tổ chức, cá nhân được giao sử dụng, khai thác

quyền sở hữu trí tuệ phải nộp số tiền thu được sau khi trừ các chi phí cần thiết cho

cơ quan thi hành án dân sự để thi hành án.

Trường hợp cần thiết, Chấp hành viên yêu cầu tổ chức chuyên môn, nghề

nghiệp về sở hữu trí tuệ thu và quản lý thu nhập, lợi nhuận từ việc sử dụng, khai thác

quyền sở hữu trí tuệ của người phải thi hành án.

Trường hợp người phải thi hành án đã chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ cho

cơ quan, tổ chức, cá nhân khác mà chưa được thanh toán hoặc mới được thanh toán

một phần tiền thì Chấp hành viên ra quyết định buộc cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận

chuyển giao nộp khoản tiền chưa thanh toán để thi hành án.

 

Câu 83. Luật THADS năm 2025 có những quy định sửa đổi, bổ sung nào về

các tài sản không được kê biên so với Luật THADS năm 2008?

Đáp:

Tài sản không được kê biên được quy định tại Điều 79 Luật THADS năm

2025. Đây là quy định kế thừa toàn bộ quy định tại Điều 87 Luật THADS năm 2008,

bên cạnh đó, chỉ bổ sung “Các tài sản khác theo quy định pháp luật” để đảm bảo bao

gồm đầy đủ các trường hợp phát sinh trên thực tiễn.

 

Câu 84. Luật THADS năm 2025 quy định như thế nào về việc thực hiện kê

biên?

Đáp:

Trình tự, thủ tục thực hiện việc kê biên tài sản được quy định tại Điều 80 Luật

THADS năm 2025. Quy định này được xây dựng trên cơ sở nội dung sắp xếp, hợp

nhất các quuy định về trình tự thủ tục kê biên tại các Điều 84, 88, 89, 90, 91, 92 đến

97 Luật THADS năm 2008, cụ thể:

- Tại khoản 1 Điều 80 Luật THADS năm 2025 quy định các nội dung chính

khi Chấp hành viên thực hiện việc kê biên, theo đó:

+ Khi kê biên, Chấp hành viên phải lập biên bản kê biên. Biên bản kê biên có

các nội dung chính sau đây: thời gian, địa điểm, thành phần tham gia; tài sản được

kê biên; tài sản khác (nếu có); việc giao bảo quản tài sản; ý kiến của các bên tham

gia; các vấn đề phát sinh. Biên bản kê biên có chữ ký của Chấp hành viên, những

người tham gia và người lập biên bản.

 

95

 

+ Trường hợp đã được thông báo hợp lệ mà đương sự hoặc người được ủy

quyền vắng mặt thì Chấp hành viên vẫn tiến hành việc kê biên, nhưng phải ghi rõ

vào nội dung biên bản kê biên.

+ Khi kê biên tài sản là bất động sản thì phải có sự tham gia của đại diện chính

quyền cấp xã hoặc đại diện thôn, tổ dân phố nơi tổ chức cưỡng chế và cơ quan có

thẩm quyền quản lý về đất đai tại địa phương.

- Tại khoản 2 Điều 80 Luật THADS năm 2025 đã quy định việc thực hiện kê

biên đối với một số tài sản cụ thể, theo đó:

+ Trước khi kê biên tài sản là bất động sản ít nhất là 03 ngày làm việc, Chấp

hành viên thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền; cơ quan có thẩm

quyền quản lý về đất đai; đại diện chính quyền cấp xã hoặc đại diện thôn, tổ dân phố

nơi tổ chức cưỡng chế; đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về thời

gian, địa điểm, tài sản kê biên, trừ trường hợp cần ngăn chặn đương sự tẩu tán, hủy

hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án (điểm a khoản 2).

+ Khi kê biên tài sản là nhà ở của người phải thi hành án đang cho thuê, cho

mượn, cho ở nhờ thì Chấp hành viên phải thông báo cho người đang thuê, mượn, ở

nhờ biết.

Trường hợp tài sản cho thuê, mượn, ở nhờ mà thời hạn thuê, mượn, ở nhờ vẫn

còn thì người đang thuê, mượn, ở nhờ có quyền tiếp tục được thuê hoặc lưu cư đến

thời điểm cơ quan thi hành án dân sự giao tài sản cho người mua tài sản hoặc người

nhận tài sản để trừ vào tiền được thi hành án. Quyền, lợi ích hợp pháp của người

thuê, mượn, ở nhờ thực hiện theo quy định của pháp luật.

Nếu người thuê, mượn, ở nhờ có hành vi chống đối, cản trở việc thi hành án

thì Chấp hành viên buộc họ, những người khác có mặt tự chuyển tài sản và ra khỏi

nhà, kể cả chưa đến hạn theo hợp đồng. Trường hợp họ không tự nguyện thực hiện

thì Chấp hành viên yêu cầu lực lượng cưỡng chế đưa họ cùng tài sản ra khỏi nhà bị

kê biên (điểm b khoản 2).

+ Khi kê biên quyền sử dụng đất, phương tiện giao thông, tài sản là quyền sở

hữu trí tuệ hoặc các tài sản khác phải đăng ký theo quy định của pháp luật, Chấp

hành viên yêu cầu người phải thi hành án, người đang quản lý giấy chứng nhận quyền

sở hữu, sử dụng tài sản và các giấy tờ khác có liên quan phải nộp các giấy tờ đó cho

cơ quan thi hành án dân sự (điểm c khoản 2).

+ Đối với phương tiện giao thông đang được khai thác sử dụng thì sau khi kê

biên, Chấp hành viên thu giữ hoặc giao cho người phải thi hành án, người đang quản

lý, sử dụng tiếp tục khai thác sử dụng, bảo quản nhưng không được thay đổi kết cấu

hiện trạng tài sản, chuyển nhượng, cầm cố, thế chấp hoặc thực hiện các giao dịch

khác đối với tài sản.

 

96

 

Trường hợp giao cho người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng tiếp

tục khai thác sử dụng phương tiện giao thông thì Chấp hành viên cấp cho người đó

biên bản thu giữ giấy đăng ký để phương tiện được phép tham gia giao thông (điểm

d khoản 2).

+ Khi kê biên đồ vật, nhà ở, công trình xây dựng hoặc tài sản khác mà người

phải thi hành án hoặc người đang quản lý, sử dụng, bảo quản tài sản vắng mặt hoặc

không thực hiện theo yêu cầu của Chấp hành viên thì tùy từng trường hợp cụ thể mà

Chấp hành viên tổ chức cưỡng chế mở khóa, mở gói; buộc ra khỏi nhà, công trình

xây dựng, tài sản gắn liền với đất; các biện pháp cần thiết khác để tiến hành kê biên,

cưỡng chế, kiểm tra hiện trạng. Người phải thi hành án phải chịu trách nhiệm về các

thiệt hại do việc cưỡng chế (điểm đ khoản 2)

+ Việc kê biên đối với tàu bay, tàu biển để thi hành án được thực hiện theo

quy định của pháp luật về bắt giữ tàu bay, tàu biển (điểm e khoản 2).

- Tại khoản 3 Điều 80, Luật THADS năm 2025 đã bổ sung quy định so với

Luật THADS năm 2008 về nội dung: “3. Khi kê biên mà phát hiện thêm tài sản khác

của người phải thi hành án tại địa điểm kê biên chưa có trong quyết định kê biên thì

Chấp hành viên kê biên tài sản đó và ghi nhận trong biên bản kê biên. Ngay sau khi

kết thúc việc kê biên, Chấp hành viên phải ra quyết định kê biên bổ sung đối với tài

sản đó.”. Trường hợp cần thiết, Chấp hành viên sửa đổi, bổ sung quyết định kê biên

theo quy định tại khoản 2 Điều 52 của Luật này.

Đây là quy định bổ sung nhằm giải quyết vướng mắc trên thực tiễn về căn cứ

ra quyết định kê biên bổ sung tài sản.

 

Câu 85. Luật THADS năm 2025 quy định như thế nào về việc xử lý tài sản

sau khi kê biên?

Đáp:

Việc xử lý tài sản sau khi kê biên được quy định tại Điều 81 Luật THADS năm

2025. Quy định này được xây dựng trên cơ sở Điều 113 Luật THADS năm 2008 về

xử lý tài sản gắn liền với đất đã kê biên, đồng thời, quy định chung về việc xử lý các

tài sản sau khi kê biên, theo đó:

- Tại khoản 1 Điều 81 Luật THADS năm 2025 quy định nguyên tắc, sau khi

kê biên, Chấp hành viên thực hiện các thủ tục thẩm định giá, xác định giá, bán, giao

tài sản và các thủ tục khác theo quy định của Luật THADS đối với các tài sản đã

được kê biên.

- Tại khoản 2 Điều 81 Luật THADS năm 2025 quy định việc xử lý đối với một

số trường hợp cụ thể khác, cụ thể:

 

97

 

+ Trường hợp có tài sản của người khác mà không thuộc tài sản kê biên thì

Chấp hành viên yêu cầu người có tài sản di dời, tháo dỡ tài sản đó ra khỏi tài sản kê

biên trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được thông báo. Hết thời hạn trên mà người

có tài sản không di dời, tháo dỡ thì Chấp hành viên thực hiện thủ tục thẩm định giá,

xác định giá, bán tài sản đó theo quy định tại Điều 82 và Điều 83 của Luật này. Trong

thời gian chờ xử lý, tài sản đó được bảo quản cùng tài sản đã kê biên và người có tài

sản có quyền nhận lại tài sản sau khi thanh toán các chi phí phát sinh.

Đối với tài sản không thể di dời, tháo dỡ hoặc việc di dời, tháo dỡ làm giảm

đáng kể giá trị tài sản thì được thẩm định giá, xác định giá, bán cùng tài sản đã kê biên.

Người có tài sản đó được hoàn trả tiền bán tài sản sau khi trừ chi phí bảo quản,

xử lý tài sản. Số tiền thu được từ việc bán tài sản được xử lý theo quy định tại khoản

1 Điều 59 của Luật này.

Quy định trên cơ bản giữ nguyên quy định hiện hành, tuy nhiên, Luật THADS

năm 2025 đã bỏ thủ tục tháo dỡ đối với những tài sản không thể di dời, tháo dỡ, hoặc

việc tháo dỡ làm giảm đáng kể giá trị tài sản tại điểm b khoản 1 Điều 113 Luật

THADS năm 2008, thay vào đó, Chấp hành viên sẽ thực hiện định giá tài sản đó bán

cùng tài sản phải thi hành án.

- Tại khoản 3 Điều 81 Luật THADS năm 2025 đã bổ sung quy định loại trừ

trong việc xử lý tài sản là cây trồng hàng năm, vật nuôi ngắn ngày chưa đến mùa thu

hoạch hoặc tài sản đang trong đang trong quy trình sản xuất khép kín, Chấp hành

viên có thể xử lý tài sản trong trường hợp đương sự có thoả thuận khác mà không

phải chờ đến mùa thu hoạch hoặc khi kết thúc quy trình sản xuất.

 

Câu 86. Luật THADS năm 2025 có những quy định sửa đổi, bổ sung nào về

thẩm định giá, xác định giá tài sản kê biên so với Luật THADS năm 2008?

Đáp:

Việc thẩm định giá, xác định giá tài sản kê biên được quy định tại Điều 82

Luật THADS năm 2025. Theo đó, kế thừa một số nội dung quy định tại Điều 98,

Điều 99 Luật THADS năm 2008, bên cạnh đó, sửa đổi, bổ sung các nội dung cụ thể

như sau:

1. Đối với việc thẩm định giá, xác định giá tài sản:

- Thứ nhất, đổi tên điều từ “định giá tài sản kê biên” thành “thẩm định giá, xác

định giá tài sản kê biên” để phù hợp với nội dung điều luật, theo đó, việc thẩm định

giá được thực hiện bởi doanh nghiệp thẩm định giá, việc xác định giá do Chấp hành

viên thực hiện.

- Thứ hai, bỏ quy định về Chấp hành viên lập biên bản về thỏa thuận khi đương

sự thoả thuận được về giá tài sản hoặc tổ chức thẩm định giá ngay khi kê biên tài sản.

 

98

 

Tuy nhiên, đương sự vẫn có quyền tự thoả thuận với nhau về giá tài sản theo nguyên

tắc thỏa thuận quy định tại khoản 2 Điều 36 Luật THADS; vẫn có quyền thỏa thuận,

và đề nghị Chấp hành viên ký hợp đồng với tổ chức thẩm định giá nếu đáp ứng điều

kiện, tiêu chuẩn và đúng pháp luật. Chấp hành viên sẽ xem xét trong quá trình lựa

chọn. Khi có thoả thuận, đương sự gửi văn bản thoả thuận cho cơ quan THADS.

- Thứ ba, về việc ký hợp đồng dịch vụ với doanh nghiệp tổ chức thẩm định giá

(đổi từ tổ chức thẩm định giá theo Luật THADS năm 2008 để phù hợp với Luật giá):

Luật THADS năm 2025 đã bỏ căn cứ tại điểm a điểm b khoản 2 Điều 98 Luật THADS

năm 2008 là đương sự không thoả thuận được tổ chức thẩm định giá và tổ chức thẩm

định giá do đương sự lựa chọn từ chối việc ký kết hợp đồng dịch vụ do đương sự

không còn quyền thoả thuận về doanh nghiệp thẩm định giá. Như vậy, Luật THADS

năm 2025 chỉ quy định: “Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày thực hiện xong

việc kê biên tài sản, Chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ với doanh nghiệp thẩm

định giá, trừ trường hợp nhận được văn bản thỏa thuận của đương sự về giá tài sản”

(điểm a khoản 1 Điều 82).

- Thứ tư, về việc Chấp hành viên xác định giá: cơ bản giữ nguyên quy định

hiện hành, chỉ bỏ căn cứ “đương sự không thoả thuận được với nhau về giá” (điểm

b khoản 1 Điều 82).

- Thứ năm, bổ sung quy định: Việc thẩm định giá, xác định giá tài sản là vàng,

chứng khoán, tài sản số hoặc tài sản đặc thù khác thực hiện theo quy định của pháp

luật (điểm c khoản 1 Điều 82).

2. Đối với việc thẩm định giá lại, xác định giá lại tài sản:

- Thứ nhất, về căn cứ thực hiện thẩm định giá lại, xác định giá lại tài sản:

+ Sửa đổi, bổ sung căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 98 Luật THADS

năm 2008: “Chấp hành viên có vi phạm nghiêm trọng quy định tại Điều 98 của Luật

này dẫn đến sai lệch kết quả định giá tài sản” thành “Có kết luận của cơ quan, người

có thẩm quyền về việc Chấp hành viên hoặc doanh nghiệp thẩm định giá có vi phạm

nghiêm trọng dẫn đến sai lệch kết quả thẩm định giá, xác định giá” (điểm a khoản 2

Điều 82). Như vậy, bên cạnh căn cứ chủ thể là Chấp hành viên có vi phạm thì còn

bổ sung chủ thể là doanh nghiệp thẩm định giá có vi phạm nghiêm trọng dẫn đến sai

lệch kết quả thẩm định giá thì cũng là căn cứ để thực hiện lại việc thẩm định giá lại

tài sản.

+ Bổ sung căn cứ “Chứng thư thẩm định giá đã hết hiệu lực trước khi ký hợp

đồng dịch vụ đấu giá tài sản, trừ trường hợp đương sự có thỏa thuận về việc tiếp tục

sử dụng giá theo chứng thư đó (điểm b khoản 1 Điều 82) để phù hợp với Luật giá và

thực tiễn công tác thi hành án.

+ Về căn cứ đương sự có văn bản yêu cầu thẩm dịnh giá lại, xác định giá lại

tài sản: Bỏ quy định “Đương sự có yêu cầu định giá lại trước khi có thông báo công

 

99

 

khai việc bán đấu giá tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 99 Luật THADS

năm 2008 do đã quy định đương sự chỉ được yêu cầu trong thời hạn 05 ngày làm

việc kể từ ngày nhận được thông báo về kết quả thẩm định giá, xác định giá lần đầu.

Đồng thời, Luật THADS năm 2025 quy định cụ thể “người yêu cầu phải chịu chi phí

và nộp ngay tạm ứng chi phí thẩm định giá lại, xác định giá lại theo quy định của

Chính phủ” thay vì quy định “đương sự có yêu cầu định giá lại...phải nộp ngay chi

phí định giá lại tài sản” (điểm c khoản 1 Điều 82).

- Thứ hai, bổ sung thời hạn thực hiện thẩm định giá lại, xác định giá lại tài sản

là 05 ngày làm việc kể từ ngày xác định có căn cứ thẩm định giá lại, xác định giá lại

tài sản (khoản 3 Điều 82).

- Thứ ba, bổ sung quy định rõ: “Giá khởi điểm để đấu giá lần đầu là giá theo

kết quả thẩm định giá, xác định giá tại khoản 1 Điều này hoặc giá do đương sự thỏa

thuận. Trường hợp thẩm định giá lại, xác định giá lại thì kết quả thẩm định giá lại,

xác định giá lại được lấy làm giá khởi điểm để đấu giá” (khoản 4 Điều 82) do Luật

THADS năm 2008 chỉ quy định giá khởi điểm đối với trường hợp định giá lại.

- Thứ tư, quy định về việc thẩm định giá trong trường hợp theo bản án, quyết

định mà một bên được nhận tài sản và phải thanh toán cho người khác giá trị tài sản

họ được nhận nhưng giá tài sản thay đổi tăng hoặc giảm so với giá trị tài sản khi bản

án, quyết định có hiệu lực pháp luật. Đây là quy định được chuyển từ quy định tại

Điều 59 Luật THADS năm 2008 và Điều 17 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP, đồng

thời sửa đổi, bổ sung so với quy định hiện hành, theo đó, việc thẩm định giá trong

trường hợp này được thực hiện khi có đủ các điều kiện sau:

+ Có ít nhất một trong các đương sự có đơn yêu cầu thẩm định giá tài sản,

cung cấp tài liệu chứng minh có thay đổi giá tài sản và đã nộp tạm ứng chi phí thẩm

định giá tài sản (điểm a khoản 5 Điều 82). Đây là nội dung kế thừa quy định hiện

hành.

+ Việc thi hành án kéo dài do tình trạng khẩn cấp, trở ngại khách quan hoặc

sự kiện bất khả kháng (điểm b khoản 5 Điều 82). Đây là nội dung bổ sung so với quy

định hiện hành.

- Thứ năm, bổ sung quy định: “Doanh nghiệp thẩm định giá, thẩm định viên

về giá chịu trách nhiệm về việc thẩm định giá tài sản thi hành án, giải trình về kết

quả thẩm định giá do mình thực hiện theo quy định của Luật Giá. Trường hợp gây

thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật” (khoản 6 Điều 82).

 

Câu 87. Luật THADS năm 2025 có những quy định sửa đổi, bổ sung nào về

bán tài sản kê biên so với Luật THADS năm 2008?

Đáp:

 

100

 

Quy định về bán tài sản kê biên được quy định tại Điều 83 Luật THADS năm

2025. Điều này được xây dựng trên cơ sở sắp xếp, hợp nhất các Điều 74, Điều 86,

101, 102, 104 và khoản 3 Điều 74 Luật THADS năm 2008, theo đó:

- Tại khoản 1 Điều 83 Luật THADS năm 2025 quy định về quyền ưu tiên mua

tài sản bị kê biên. Đây là quy định tại khoản 3 Điều 74 Luật THADS hiện hành, bên

cạnh đó, có các nội dung sửa đổi, bổ sung, cụ thể:

+ Bổ sung chủ thể được quyền ưu tiên mua tài sản, bên cạnh chủ sở hữu chung

tài sản, Luật THADS năm 2025 quy định các trường hợp “bản án, quyết định tuyên

hoặc pháp luật quy định tổ chức, cá nhân được quyền ưu tiên mua tài sản” thì tổ chức,

cá nhân được bản án tuyên hoặc pháp luật quy định cũng được quyền ưu tiên mua tài

sản. Thủ tục thực hiện tương tự như đối với chủ sở hữu chung.

+ Giảm thời hạn thực hiện quyền ưu tiên mua trước khi bán tài sản lần đầu từ

03 tháng xuống 15 ngày với bất động sản và từ 01 tháng xuống 05 ngày làm việc kể

từ ngày được thông báo hợp lệ đối với động sản. Đối với những lần bán tiếp theo,

Luật THADS năm 2025 không còn quy định thời hạn là 15 ngày kể từ ngày được

thông báo hợp lệ, thay vào đó, chỉ quy định đối với những lần bán tiếp theo thì những

người có quyền ưu tiên mua có quyền thực hiện quyền của mình trước thời điểm mở

cuộc đấu giá 03 ngày làm việc.

- Tại khoản 2 Điều 83 quy định về việc bán tài sản kê biên. Đây là quy định

có nhiều nội dung sửa đổi, bổ sung so với Luật THADS năm 2008, cụ thể:

+ Không quy định Chấp hành viên phải tổ chức cho đương sự thoả thuận về

tổ chức hành nghề đấu giá tài sản (tổ chức bán đấu giá theo quy định hiện hành), thay

vào đó, căn cứ điểm a khoản 2 Điều 83, khi hết thời hạn mà đương sự không yêu cầu

thì Chấp hành viên sẽ thực hiện lựa chọn, ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức hành nghề

đầu giá tài sản. Tuy nhiên, quy định này không làm mất quyền thỏa thuận của đương

sự, trường hợp đương sự thỏa thuận đúng quy định pháp luật và đề nghị thì Chấp

hành viên có quyền xem xét, sử dụng kết quả theo thỏa thuận.

+ Không còn quy định về việc tổ chức hành nghề đấu giá được ký hợp đồng

phải là tổ chức trên địa bàn tỉnh, thành phố nơi có tài sản như Luật THADS năm

2008, thay vào đó, không quy định giới hạn phạm vi địa giới hành chính đối với các

tổ chức hành nghề đấu giá, quy định này đảm bảo nguyên tắc bình đẳng.

+ Về thời hạn thực hiện ký hợp đồng dịch vụ đấu giá: Luật THADS năm 2025

đã sửa đổi về thời hạn thực hiện từ 10 ngày kể từ ngày định giá thành 05 ngày kể từ

ngày hết thời hạn đương sự thực hiện quyền đề nghị thẩm định giá lại, xác định giá

lại tài sản thì Chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức hành nghề đấu giá tài

sản. Trong trường hợp thẩm dịnh giá lại, xác định giá lại tài sản thì thời hạn thực

hiện ký hợp đồng là 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được kết quả thẩm định giá

lại hoặc có kết quả xác định giá lại tài sản. Đây là quy định phù hợp với thực tiễn tổ

chức thi hành án (đoạn 1 Điểm a khoản 2 Điều 83).

 

101

 

+ Luật THADS năm 2025 đã bổ sung quy định: trong thời hạn 05 ngày làm

việc kể từ ngày hết thời hạn trên mà không ký được hợp đồng với tổ chức hành nghề

đấu giá tài sản thì Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản trên địa bàn thực hiện việc đấu

giá (đoạn 2 điểm a khoản 2 Điều 83).

+ Luật THADS năm 2025 đã bỏ quy định Chấp hành viên được bán đấu giá

tài sản kê biên theo quy định tại khoản 3 Điều 101 Luật THADS năm 2008. Theo đó,

theo Luật THADS năm 2025, Chấp hành viên chỉ được bán không qua thủ tục đấu

giá đối với động sản có giá trị nhỏ hoặc tài sản klà hàng hoá, vật phẩm dễ bị hư hỏng

(điểm b khoản 2 Điều 83).

+ Bổ sung quy định tại điểm c khoản 2 Điều 83: “Việc bán tài sản là vàng,

chứng khoán, tài sản số hoặc tài sản đặc thù khác thực hiện theo quy định của pháp

luật.”

- Tại khoản 3 Điều 83 Luật THADS năm 2025 quy định về việc xử lý tài sản

bán đấu giá không thành. Đây là quy định được xây dựng trên cơ sở Điều 104 Luật

THADS năm 2008, bên cạnh đó có các nội dung sửa đổi, bổ sung như sau:

+ Bỏ cụm từ “không có người tham gia đấu giá, trả giá” bởi theo khoản 1 Điều

52 Luật Đấu giá tài sản đã có quy định về các trường hợp đấu giá không thành, theo

đó, bên cạnh trường hợp không có người đăng ký tham gia đấu giá còn các trường

hợp khác như tại phiên đấu giá không có người trả giá hoặc không có người chấp

nhận giá, Người trúng đấu giá từ chối ký biên bản đấu giá,...Do đó, khi có một trong

những căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 52 Luật Đấu giá, tổ chức hành nghề đấu giá

sẽ thông báo cho cơ quan THADS.

+ Bỏ thủ tục Chấp hành viên yêu cầu đương sự thoả thuận về mức giảm giá

tài sản sau khi bán đấu giá lần đầu không thành.

+ Luật THADS năm 2025 tiếp tục kế thừa quy định về việc người được thi hành

án có quyền nhận tài sản để trừ vào tiền thi hành án từ sau lần giảm giá thứ hai trở đi

mà tài sản đấu giá không thành. Bên cạnh đó, đối với các thủ tục khi người được thi

hành án đề nghị nhận tài sản để trừ vào tiền thi hành án (khoản 2 Điều 104 Luật

THADS năm 2008) được Luật THADS năm 2025 giao Chính phủ quy định chi tiết.

- Tại khoản 4 Điều 83 Luật THADS năm 2025 đã kế thừa quy định tại khoản

5 Điều 101 Luật THADS năm 2008, theo đó: “4. Trước khi mở cuộc đấu giá 01 ngày

làm việc, người phải thi hành án nộp đủ tiền để thi hành án và thanh toán các chi phí

thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá thì được

nhận lại tài sản thi hành án.

Người phải thi hành án có trách nhiệm hoàn trả phí tổn thực tế, hợp lý cho

người đăng ký mua tài sản. Mức phí tổn do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận

được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.”

 

102

 

- Tại khoản 5 Điều 83 Luật THADS năm 2025 tiếp tục kế thừa quy định tại

khoản 6 Điều 101 Luật THADS năm 2008, cụ thể: “5. Trình tự, thủ tục đấu giá tài

sản thực hiện theo quy định của pháp luật về đấu giá tài sản.”

- Tại khoản 6 Điều 83 Luật THADS năm 2025 đã thu hút quy định tại Nghị

định số 62/2015/NĐ-CP, theo đó: “6. Trường hợp trong cùng một cuộc đấu giá mà

có nhiều tài sản được đấu giá thì Chấp hành viên yêu cầu tổ chức hành nghề đấu giá

tài sản, Hội đồng đấu giá tài sản, Đấu giá viên thực hiện việc đấu giá theo thứ tự từ

tài sản có giá trị lớn nhất.”

- Tại khoản 7 Điều 83 Luật THADS năm 2025 đã bổ sung quy định: “7. Tổ

chức hành nghề đấu giá tài sản, Đấu giá viên thực hiện các thủ tục đấu giá tài sản và

phải chịu trách nhiệm về việc đấu giá tài sản thi hành án theo quy định của Luật Đấu

giá tài sản. Trường hợp gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.”

 

Câu 88. Luật THADS năm 2025 có những quy định như thế nào về việc tạm

dừng, dừng việc tổ chức đấu giá, phiên đấu giá tài sản thi hành án?

Đáp:

Việc tạm dừng, dừng việc tổ chức đấu giá, phiên đấu giá tài sản thi hành án

được quy định tại Điều 84 Luật THADS năm 2025. Đây là quy định mới so với Luật

THADS năm 2008, nhằm thống nhất, đồng bộ với pháp luật về đấu giá tài sản và giải

quyết vướng mắc thực tiễn trong công tác thi hành án dân sự, cụ thể:

- Tại khoản 1 Điều 84 Luật THADS năm 2025 quy định về các căn cứ để Chấp

hành viên có quyền yêu cầu tổ chức hành nghề đấu giá tài sản, Hội đồng đấu giá tài

sản “tạm dừng” việc tổ chức đấu giá, bao gồm:

+ Có quyết định hoãn, tạm đình chỉ thi hành án;

+ Có yêu cầu của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo về việc tạm

dừng việc thi hành án để giải quyết khiếu nại, tố cáo;

+ Có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân, quyết định hoặc văn bản khác

của cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu tạm dừng xử lý tài sản.

Tại khoản 2 Điều 84 Luật THADS năm 2025 quy định về các căn cứ để Chấp

hành viên có quyền yêu cầu tổ chức hành nghề đấu giá tài sản, Hội đồng đấu giá tài

sản “dừng” việc tổ chức đấu giá, bao gồm:

+ Có quyết định đình chỉ thi hành án;

+ Có kết luận của cơ quan, người có thẩm quyền về việc có vi phạm nghiêm

trọng trong tổ chức thi hành án và đấu giá đối với tài sản đó;

+Có căn cứ xác định tài sản đấu giá không đủ điều kiện đưa ra đấu giá;

 

103

 

+ Người phải thi hành án đã nộp đủ tiền để nhận lại tài sản hoặc người được

thi hành án nhận tài sản đã kê biên để trừ vào tiền được thi hành án theo quy định

của Luật này;

+ Trường hợp bán tài sản theo quy định tại khoản 6 Điều 83 của Luật này mà

số tiền thu được từ việc đấu giá tài sản đã đủ để thi hành nghĩa vụ và các chi phí theo

quy định.

- Tại khoản 3 Điều 84 Luật THADS năm 2025 quy định: “3. Việc tạm dừng,

dừng việc tổ chức đấu giá, phiên đấu giá theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều

này chỉ được thực hiện trước khi Đấu giá viên công bố người trúng đấu giá và phải

được đưa vào hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản và Quy chế cuộc đấu giá theo quy

định của pháp luật về đấu giá tài sản.”

 

Câu 89. Luật THADS năm 2025 có những quy định sửa đổi, bổ sung nào về

huỷ kết quả bán đấu giá tài sản so với Luật THADS năm 2008?

Đáp:

Việc huỷ kết quả bán đấu giá tài sản được quy định tại Điều 85 Luật THADS

năm 2025. Đây là quy định được kế thừa, giữ nguyên quy định tại Điều 102 Luật

THADS năm 2008, không có nội dung được sửa đổi, bổ sung, cụ thể:

“1. Việc hủy kết quả đấu giá tài sản được thực hiện theo quy định của pháp

luật về đấu giá tài sản. Trường hợp kết quả đấu giá tài sản bị hủy thì việc xử lý tài

sản để thi hành án được thực hiện theo quy định của Luật này.

2. Người mua được tài sản đấu giá, Chấp hành viên có quyền khởi kiện yêu

cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về kết quả đấu giá tài sản, nếu có căn cứ chứng

minh có vi phạm trong quá trình đấu giá tài sản theo quy định của Chính phủ.

3. Việc xử lý hậu quả và bồi thường thiệt hại do kết quả đấu giá tài sản bị hủy

được giải quyết theo quy định của pháp luật.”

 

Câu 90. Luật THADS năm 2025 có những quy định sửa đổi, bổ sung nào về

giao tài sản để thi hành án so với Luật THADS năm 2008?

Đáp:

Việc giao tài sản thi hành án được quy định tại Điều 86 Luật THADS năm

2025. Quy định này được xây dựng trên cơ sở sắp xếp, hợp nhất nội dung các Điều

100, 103, 104 Luật THADS năm 2008, bên cạnh đó có một số nội dung sửa đổi, bổ

sung sau đây:

- Khoản 1 Điều 86 Luật THADS đã sửa đổi, bổ sung quy định về trường hợp

có nhiều người được thi hành án thì người nhận tài sản đã kê biên để trừ vào tiền

 

104

 

được thi hành án phải đáp ứng đủ các điều kiện được sự đồng ý của những người

được thi hành án khác và phải thanh toán lại cho những người được thi hành án khác

số tiền tương ứng tỷ lệ giá trị mà họ được hưởng, đây là 02 điều kiện được giữ nguyên

theo quy định tại khoản 1 Điều 100 Luật THADS năm 2008, bên cạnh đó Luật

THADS năm 2025 bổ sung điều kiện người nhận tài sản phải thanh toán số tiền trích

lại quy định tại khoản 2 Điều 89 Luật THADS, các chi phí thi hành án do đương sự

chịu và các khoản tiền khác theo quy định của Chính phủ.

- Khoản 2 Điều 86 Luật THADS đã thu hút quy định về hình thức giao tài sản

“Chấp hành viên ra quyết định giao tài sản cho người mua được tài sản, người nhận

tài sản để trừ vào tiền thi hành án” tại điểm a khoản 1 Điều 7 Thông tư liên tịch số

11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC.

- Khoản 3, khoản 4, khoản 5 Điều 86 Luật THADS được xây dựng dựa trên

cơ sở khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 103 Luật THADS năm 2008, cụ thể: “3. Người

mua được tài sản, người nhận tài sản để trừ vào tiền được thi hành án được pháp luật

công nhận và bảo vệ quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản đó.

4. Trường hợp người mua được tài sản đấu giá đã nộp đủ tiền mua tài sản đấu

giá nhưng bản án, quyết định bị sửa hoặc bị hủy thì cơ quan thi hành án dân sự tiếp

tục giao tài sản, kể cả thực hiện việc cưỡng chế thi hành án để giao tài sản cho người

mua được tài sản đấu giá, trừ trường hợp kết quả đấu giá tài sản bị hủy theo quy định

của pháp luật hoặc đương sự có thỏa thuận khác.

5. Trường hợp phải cưỡng chế giao tài sản cho người mua được tài sản, người

nhận tài sản để trừ vào tiền được thi hành án thì Chấp hành viên thực hiện theo quy

định tại các điều 88, 89 và 90 của Luật này.”

 

Câu 91. Luật THADS năm 2025 có những quy định sửa đổi, bổ sung nào về

việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản so với Luật THADS năm

2008?

Đáp:

Việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản được quy định tại

Điều 87 Luật THADS năm 2025. Đây là quy định được xây dựng dựa trên cơ sở kế

thừa quy định tại Điều 106 Luật THADS năm 2008 (trong đó khoản 4 Điều 106 đã

được sửa đổi theo Điều 246 Luật Đất đai năm 2024). Bên cạnh đó, có một số nội

dung sửa đổi, bổ sung như sau:

- Không quy định nội dung tại khoản 1 Điều 106 Luật THADS năm 2008

“Người mua được tài sản thi hành án, người nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi

hành án được pháp luật công nhận và bảo vệ quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản

đó” do đã được quy định tại khoản 3 Điều 86 Luật THADS năm 2025;

 

105

 

- Không quy định nội dung tại khoản 3 Điều 106 Luật THADS năm 2008 về

hồ sơ đăng ký quyền sở hữu “Hồ sơ đăng ký chuyển quyền sở hữu, sử dụng gồm có:

a) Văn bản đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự; b) Bản sao bản án, quyết định;

c) Quyết định thi hành án; d) Quyết định kê biên tài sản, nếu có; đ) Văn bản bán đấu

giá thành hoặc quyết định giao tài sản, biên bản giao nhận tài sản để thi hành án;

e) Giấy tờ khác có liên quan đến tài sản” mà sẽ quy định tại Nghị định quy định chi

tiết và hướng dẫn thi hành.

 

Câu 92. Luật THADS năm 2025 có những quy định sửa đổi, bổ sung nào về

cưỡng chế giao, trả vật, giấy tờ so với Luật THADS năm 2008?

Đáp:

Cưỡng chế giao, trả vật, giấy tờ được quy định tại Điều 88 Luật THADS năm

2025. Đây là quy định được xây dựng trên cơ sở kế thừa quy định tại Điều 114, Điều

116 Luật THADS năm 2008. Bên cạnh đó, có một số nội dung sửa đổi, bổ sung như

sau:

- Tại điểm c khoản 1 Điều 88 Luật THADS năm 2025 về cưỡng chế trả vật

đặc định mà vật không còn hoặc bị hư hỏng đến mức không sử dụng được mà đương

sự không thoả thuận được đã bổ sung quy định “Hết thời hạn 15 ngày kể từ ngày

được thông báo mà đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết thì cơ quan thi hành

án dân sự xử lý theo quy định tại Điều 38 của Luật này”. Điều 38 Luật THADS năm

2025 quy định về việc thi hành án chưa có điều kiện thi hành.

- Khoản 2, Khoản 3 Điều 88 Luật THADS năm 2025 tiếp tục kế thừa, giữ

nguyên quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 116 Luật THADS năm 2008.

- Không quy định về xử lý trường hợp giấy tờ không thể thu hồi và cũng không

thể cấp lại bởi đã được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 38 Luật THADS năm 2025.

 

Câu 93. Luật THADS năm 2025 có những quy định sửa đổi, bổ sung nào về

cưỡng chế giao, trả nhà, tài sản gắn liền với đất so với Luật THADS năm 2008?

Đáp:

Cưỡng chế giao, trả nhà, tài sản gắn liền với đất được quy định tại Điều 89

Luật THADS năm 2025. Đây là quy định được xây dựng trên cơ sở Điều 115 Luật

THADS năm 2008, bên cạnh đó có một số nội dung sửa đổi, bổ sung như sau:

- Bổ sung tên gọi, nội hàm của khoản nghĩa vụ áp dụng biện pháp cưỡng chế,

theo đó, Luật THADS năm 2008 chỉ quy định về việc cưỡng chế trả nhà, giao nhà

nhưng Luật THADS năm 2025 đã xác định thêm trường hợp giao, trả đối với “tài sản

gắn liền với đất” để phù hợp thực tiễn công tác tổ chức thi hành án.

 

106

 

- Tại khoản 1 Điều 89 Luật THADS năm 2025 cơ bản vẫn giữ nguyên tinh

thần của khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 115 Luật THADS năm 2008, chỉ không

quy định “thời hạn 03 tháng kể từ ngày được thông báo” mà người có tài sản không

đến nhận thì tài sản đó được xử lý theo quy định bởi thời hạn thông báo và việc xử

lý tài sản đã được Luật THADS dẫn chiếu đến Điều 59 của Luật THADS năm 2025.

- Không quy định việc cưỡng chế đẻ trả lại công trình xây dựng, vật kiến trúc

quy định tại khoản 4 Điều 115 Luật THADS năm 2008 vì “công trình xây dựng, vật

kiến trúc” được coi là tài sản gắn liền với đất và đã được quy định áp dụng chung tại

khoản 1 Điều 89 Luật THADS năm 2025.

- Tại khoản 2 Điều 89 Luật THADS về trường hợp cưỡng chế giao nhà là nhà

ở duy nhất của người phải thi hành án: cơ bản kế thừa khoản 5 Điều 115 Luật THADS

năm 2008, tuy nhiên, Luật THADS năm 2025 quy định mức trích lại tiền thuê nhà

trong thời hạn 01 năm không tính theo “tiền thuê nhà trung bình tại địa phương” mà

“theo quy định của Chính phủ”.

 

Câu 94. Luật THADS năm 2025 có những quy định sửa đổi, bổ sung nào về

cưỡng chế thi hành nghĩa vụ buộc thực hiện công việc nhất định so với Luật THADS

năm 2008?

Đáp:

Cưỡng chế thi hành nghĩa vụ buộc thực hiện công việc nhất định được quy

định tại Điều 91 Luật THADS năm 2025. Đây là quy định được xây dựng trên cơ sở

kế thừa Điều 118 Luật THADS năm 2008, bên cạnh đó có một số nội dung sửa đổi,

bổ sung như sau:

- Tại khoản 1 Điều 91 Luật THADS năm 2025 đã bỏ quy định về thủ tục Chấp

hành viên quyết định phạt tiền và ấn định thời hạn thực hiện nghĩa vụ trong trường

người hợp sau khi ra quyết định phạt tiền mà người phải thi hành án không thực hiện

để phù hợp với pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Thay vào đó, quy định khi ra

quyết định cưỡng chế, Chấp hành viên ấn định thời hạn là 05 ngày kể từ ngày được

thông báo hợp lệ quyết định cưỡng chế để người phải thi hành án thực hiện.

- Tại khoản 1 Điều 91 Luật THADS năm 2025 đã bổ sung khoản nghĩa vụ

“buộc pháp nhân thương mại công khai xin lỗi” là một khoản nghĩa vụ áp dụng biện

pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ buộc thực hiện công việc nhất định.

- Tại khoản 2 Điều 91 Luật THADS về việc xử lý khi hết thời hạn ấn định mà

người phải thi hành án không thực hiện: Luật THADS năm 2025 giữ nguyên quy

định tại điểm a khoản 2 Điều 118 Luật THADS năm 2008, theo đó nếu công việc đó

có thể giao người khác thực hiện thay thì Chấp hành viên giao cho người có điều

kiện thực hiện và chi phí do người phải thi hành án chịu. Đối với trường hợp không

thể giao cho người khác thực hiện thay thì Luật THADS năm 2025 đã đưa ra cụ thể

 

107

 

các trường hợp hơn, theo đó, thay vì xác định “công việc đó phải do chính người

phải thi hành án thực hiện” thì Luật THADS năm 2025 xác định “thi hành nghĩa vụ

gắn liền với nhân thân của người phải thi hành án hoặc pháp luật có quy định nghĩa

vụ không được chuyển giao hoặc trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện

thực hiện công việc nhất định” thì Chấp hành viên đề nghị cơ quan có thảm quyền

truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án.

 

Câu 95. Luật THADS năm 2025 có những quy định sửa đổi, bổ sung nào về

cưỡng chế thi hành nghĩa vụ không được thực hiện công việc nhất định so với Luật

THADS năm 2008?

Đáp:

Việc cưỡng chế thi hành nghĩa vụ không được thực hiện công việc nhất định

được quy định tại Điều 92 Luật THADS năm 2025. Đây là quy định được xây dựng

trên cơ sở kế thừa quy định tại Điều 119 Luật THADS năm 2008. Bên cạnh đó, Luật

THADS năm 2025 chỉ bỏ quy định về thủ tục Chấp hành viên quyết định phạt tiền

trong trường người phải thi hành án không tự nguyện chấm dứt việc thực hiện công

việc mà theo bản án, quyết định không được thực hiện để phù hợp với pháp luật về

xử lý vi phạm hành chính.

 

Câu 96. Luật THADS năm 2025 có những quy định sửa đổi, bổ sung nào về

cưỡng chế giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng theo bản án,

quyết định so với Luật THADS năm 2008?

Đáp:

Cưỡng chế giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng theo

bản án, quyết định được quy định tại Điều 93 Luật THADS năm 2025. Đây là quy

định được xây dựng trên cơ sở kế thừa quy định tại Điều 120 Luật THADS năm

2008. Tuy nhiên, Luật THADS năm 2025 có nhiều quy định sửa đổi, bổ sung so với

Luật THADS năm 2008, cụ thể:

- Luật THADS năm 2025 đã bỏ quy định về thủ tục Chấp hành viên quyết định

phạt tiền và ấn định thời hạn thực hiện nghĩa vụ trong trường người hợp sau khi ra

quyết định phạt tiền mà người phải thi hành án không thực hiện để phù hợp với pháp

luật về xử lý vi phạm hành chính. Thay vào đó, quy định khi ra quyết định cưỡng

chế, Chấp hành viên ấn định thời hạn là 05 ngày kể từ ngày được thông báo hợp lệ

quyết định cưỡng chế để người phải thi hành án thực hiện.

- Bỏ quy định “Hết thời hạn ấn định mà người đó không thực hiện thì Chấp

hành viên tiến hành cưỡng chế buộc giao người chưa thành niên” mà chỉ quy định

“Hết thời hạn đã ấn định mà người phải thi hành án hoặc người đang trông giữ người

 

108

 

chưa thành niên không giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng

thì Chấp hành viên đề nghị cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự về

tội không chấp hành án.” (khoản 2 Điều 93).

- Bổ sung quy định “3. Thủ tục cưỡng chế giao người mất năng lực hành vi

dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cho cá nhân hoặc tổ

chức nuôi dưỡng thực hiện theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.” (khoản

3 Điều 93).

 

Câu 97. Luật THADS năm 2025 có những quy định sửa đổi, bổ sung nào về

cưỡng chế buộc nhận người lao động trở lại làm việc so với Luật THADS năm 2008?

Đáp:

Cưỡng chế buộc nhận người lao động trở lại làm việc được quy định tại Điều

94 Luật THADS năm 2025. Đây là quy định được xây dựng trên cơ sở kế thừa quy

định tại Điều 121 Luật THADS năm 2008, Luật THADS năm 2025 chỉ bỏ quy định

về thủ tục Chấp hành viên quyết định phạt tiền và ấn định thời hạn thực hiện nghĩa

vụ trong trường người hợp sau khi ra quyết định phạt tiền mà người phải thi hành án

không thực hiện để phù hợp với pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Thay vào

đó, quy định khi ra quyết định cưỡng chế, Chấp hành viên ấn định thời hạn là 05

ngày kể từ ngày được thông báo hợp lệ quyết định cưỡng chế để người phải thi hành

án thực hiện.

 

Câu 98. Luật THADS năm 2025 có những quy định sửa đổi, bổ sung nào về

chấm dứt áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế và giải toả kê biên tài

sản so với Luật THADS năm 2008?

Đáp:

Việc chấm dứt áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế và giải toả

kê biên tài sản được quy định tại Điều 95 Luật THADS năm 2025. Đây là quy định

được xây dựng trên cơ sở sắp xếp, hợp nhất khoản 3 Điều 67, khoản 5 Điều 68, khoản

4 Điều 69, 77, 105, 109 Luật hiện hành. Bên cạnh đó, có một số nội dung sửa đổi, bổ

sung như sau:

- Tại khoản 1 Điều 95, bổ sung quy định: “1. Quyết định áp dụng biện pháp

bảo đảm, quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án đương nhiên hết hiệu

lực khi có quyết định đình chỉ thi hành án hoặc có quyết định hủy bỏ việc áp dụng

biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế của người có thẩm quyền.” để xác định hậu

quả của việc đình chỉ thi hành án hoặc quyết định huỷ bỏ việc áp dụng biện pháp bảo

đảm, biện pháp cưỡng chế của người có thẩm quyền sẽ đương nhiên dẫn tới hết hiệu

lực của các quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án.

 

109

 

- Tại khoản 2 Điều 95 đã quy định cụ thể căn cứ, thời hạn để người có thẩm

quyền ra quyết định chấm dứt áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án (trừ biện pháp

tạm hoãn xuất cảnh vì việc chấm dứt tạm hoãn xuất cảnh được áp dụng theo pháp

luật về xuất, nhập cảnh), cụ thể:

“2. Người có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo đảm quy định tại các điểm a,

b và c khoản 1 Điều 66 của Luật này phải ra quyết định chấm dứt áp dụng biện pháp

bảo đảm trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày có một trong các căn cứ sau đây:

a) Người yêu cầu áp dụng biện pháp bảo đảm đề nghị chấm dứt;

b) Người phải thi hành án đã thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án, nộp phí và

thanh toán các chi phí thi hành án theo quy định của Luật này;

c) Tài sản, giấy tờ không thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng của người phải

thi hành án;

d) Trường hợp khác theo quy định của pháp luật.”

- Tại khoản 3 Điều 95 Luật THADS năm 2025 đã quy định cụ thể về căn cứ,

thời hạn để Chấp hành viên ra quyết định giải toả kê biên tài sản hoặc quyết định

chấm dứt áp dụng biện pháp trừ vào thu nhập, theo đó:

“3. Chấp hành viên ra quyết định giải tỏa kê biên tài sản hoặc quyết định chấm

dứt áp dụng biện pháp trừ vào thu nhập trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày

có một trong các căn cứ sau đây:

a) Đương sự thỏa thuận về việc giải tỏa kê biên tài sản, trừ trường hợp thỏa

thuận vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội, làm ảnh hưởng đến lợi ích của

Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba hoặc nhằm trốn tránh nghĩa vụ

nộp phí thi hành án;

b) Người phải thi hành án đã thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án, nộp phí và

thanh toán các chi phí thi hành án hoặc trường hợp khác theo quy định của pháp

luật.”

- Tại khoản 4 Điều 95 Luật THADS năm 2025 đã quy định cụ thể về căn cứ,

thời hạn để Chấp hành viên ra quyết định chấm dứt áp dụng biện pháp cưỡng chế

khai thác tài sản, cụ thể:

“4. Chấp hành viên ra quyết định chấm dứt áp dụng biện pháp cưỡng chế khai thác

tài sản trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày có một trong các căn cứ sau đây:

a) Việc khai thác tài sản không hiệu quả hoặc làm cản trở đến việc thi hành án;

b) Người phải thi hành án, người khai thác tài sản thực hiện không đúng yêu

cầu của Chấp hành viên về việc khai thác tài sản;

c) Người phải thi hành án đã thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án, nộp phí và

thanh toán các chi phí thi hành án hoặc trường hợp khác theo quy định của pháp luật.”

 

110

 

- Tại khoản 5 Điều 85 Luật THADS quy định về việc xử lý khi Chấp hành

viên chấm dứt cưỡng chế khai thác tài sản khi việc khai thác tài sản không hiệu quả

hoặc làm cản trở đến việc thi hành án hoặc người phải thi hành án, người khai thác

tài sản thực hiện không đúng yêu cầu của Chấp hành viên về việc khai thác tài sản

thì Chấp hành viên tiếp tục kê biên và xử lý tài sản đó để thi hành án.

- Tại khoản 6 Điều 95 Luật THADS năm 2025 giao Chính phủ quy định chi

tiết về việc trả lại tài sản, giấy tờ sau khi chấm dứt áp dụng biện pháp bảo đảm, biện

pháp cưỡng chế, giải toả kê biên. 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét