Mục 2
THỦ TỤC THI
HÀNH ÁN TRONG MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP CỤ THỂ
Câu 61. Luật
THADS năm 2025 quy định những nội dung mới nào đối với
việc bảo quản,
khai thác, sử dụng tài sản thi hành án so với Luật THADS năm 2008?
Đáp:
Tại Điều 40
Luật THADS năm 2025 quy định về bảo quản, khai thác, sử dụng
tài sản thi
hành án trên cơ sở sắp xếp, sửa đổi, bổ sung các Điều 58, Điều 112 của
Luật THADS
năm 2008. Cụ thể:
- Lược bỏ những
nội dung về thủ tục giao bảo quản tại khoản 3, 4 Điều 58 và
khoản 2, khoản
3 Điều 112 Luật THADS năm 2008 do thuộc thẩm quyền của Chính
phủ để quy định
tại Nghị định hướng dẫn chi tiết; lược bỏ câu “Trường hợp không
có tổ chức,
cá nhân nào nhận thì cơ quan thi hành án dân sự tiến hành ngay việc
định giá và
bán đấu giá theo quy định của pháp luật” tại khoản 2 Điều 112 Luật
THADS năm
2008.
+ Bổ sung một
số loại tài sản “vàng, bạc, đồ cổ”, “ngoại tệ tiền mặt” tại
điểm b khoản
1 Điều 40 Luật THADS năm 2025 để thống nhất với quy định tại
Nghị định
142/2024/NĐ-CP ngày 30/10/2024 quy định về quản lý kho vật chứng
và tài liệu,
đồ vật.
+ Bổ sung
trường hợp không thực hiện được việc giao bảo quản cho người
phải thi
hành án hoặc người khác đang quản lý, sử dụng, bảo quản hoặc không thể
70
giao cho cá
nhân, tổ chức có điều kiện bảo quản hoặc cơ quan THADS không thể
bảo quản thì
Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có tài sản có trách nhiệm bảo quản trong
thời gian
chưa xử lý được tài sản tại điểm đ khoản 1 Điều 39 Luật THADS năm 2025.
+ Bổ sung
quy định: Trong thời gian được giao bảo quản, khai thác, sử dụng
tài sản thi
hành án, người được giao không được chuyển quyền sở hữu, chuyển quyền
sử dụng đất,
chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp,
góp vốn bằng
tài sản hoặc thực hiện các giao dịch khác liên quan đến tài sản; gây
hư hỏng,
đánh tráo, làm mất, hủy hoại tài sản, làm thay đổi kết cấu, thay đổi hiện
trạng, mục
đích sử dụng tài sản.
Câu 62. Luật
THADS năm 2025 có những quy định sửa đổi, bổ sung nào về
việc thi
hành khoản xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ bị tuyên tịch thu, sung quỹ nhà
nước so với
Luật THADS năm 2008?
Đáp:
Việc thi
hành khoản xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ bị tuyên tịch thu, sung
quỹ nhà nước
được quy định tại Điều 57 Luật THADS năm 2025, theo đó, so với
Luật THADS
năm 2008, có một số nội dung sửa đổi, bổ sung như sau:
- Thứ nhất,
bổ sung cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận, xử lý vật chứng, tài sản
tạm giữ.
Theo đó, bên cạnh “cơ quan tài chính cấp tỉnh” thì cơ quan THADS có thể
giao vật chứng,
tài sản tạm giữ cho “Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có vật chứng, tài
sản” để xử
lý theo quy định. Chi phí bảo quản, xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ bị
tuyên tịch
thu, sung quỹ nhà nước do cơ quan xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ chi trả
theo quy định
của pháp luật.
- Thứ hai, bổ
sung quy định: “Đối với khoản tiền đã tạm thu trước khi có bản
án, quyết định
của Tòa án mà sau 05 năm kể từ ngày tạm thu không nhận được bản
án, quyết định
của Tòa án thì cơ quan thi hành án dân sự thực hiện thủ tục sung công.
Sau khi sung
công, trường hợp nhận được bản án, quyết định của Tòa án thì cơ quan
thi hành án
dân sự thực hiện thoái thu theo quy định của pháp luật để thi hành theo
nội dung bản
án, quyết định.
Đối với khoản
tiền đã tạm thu nhưng đến ngày 01 tháng 7 năm 2026 mà cơ
quan thi
hành án dân sự vẫn chưa nhận được bản án, quyết định thì được xử lý theo
quy định tại
khoản này.”
Quy định này
nhằm giải quyết các khoản tiền cơ quan THADS đã thực hiện
tạm thu tồn
đọng hiện nay.
Câu 63. Luật
THADS năm 2025 có những quy định sửa đổi, bổ sung nào về
việc tiêu hủy
vật chứng, tài sản so với Luật THADS năm 2008?
71
Đáp:
Việc tiêu hủy
vật chứng, tài sản được quy định tại Điều 58 Luật THADS năm
2025. So với
Luật THADS năm 2008 có một số nội dung sửa đổi, bổ sung như sau:
- Thứ nhất,
bổ sung căn cứ để cơ quan THADS tiêu hủy vật chứng, tài sản, cụ
thể: Luật
THADS năm 2008 quy định cơ quan thi hành án dân sự tiêu hủy vật chứng,
tài sản
trong trường hợp bản án, quyết định tuyên tiêu huỷ vật chứng, tài sản. Tuy
nhiên, Luật
THADS năm 2025 đã bổ sung các trường hợp khác mà cơ quan THADS
thực hiện
tiêu huỷ tài sản như quy định tại Điều 59 Luật THADS năm 2025 về việc
tiêu huỷ đối
với các tài sản thuộc diện trả lại cho đương sự nhưng không bán được
hoặc bị hư hỏng
không còn giá trị sử dụng mà đương sự không đến nhận thì Thủ
trưởng cơ
quan thi hành án dân sự ra quyết định tiêu hủy và tổ chức tiêu hủy theo
quy định.
- Thứ hai, về
thời hạn Thủ trưởng cơ quan THADS ra quyết định thành lập
Hội đồng
tiêu huỷ vật chứng, tài sản: Luật THADS năm 2025 quy định thời hạn ra
quyết định
thành lập Hội đồng tiêu huỷ là trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày ra quyết
định thi
hành án đối với trường hợp Bản án, quyết định của Toà án tuyên tiêu huỷ
vật chứng,
tài sản hoặc kể từ ngày có quyết định tiêu huỷ đối với trường hợp tiêu huỷ
tài sản quy
định tại điểm b khoản 1 Điều 58 (các trường hợp tiêu huỷ tài sản khác
theo quy định
của Luật THADS năm 2025).
- Thứ ba, về
thành phần Hội đồng tiêu huỷ vật chứng, tài sản: Luật THADS
năm 2008 quy
định, thành phần Hội đồng tiêu huỷ bao gồm Chấp hành viên là Chủ
tịch Hội đồng,
đại diện cơ quan tài chính cùng cấp là thành viên, đại diện cơ quan
chuyên môn
tham gia Hội đồng khi cần thiết. Tuy nhiên, Luật THADS năm 2025
quy định,
thành phần Hội đồng tiêu huỷ bao gồm Chấp hành viên là Chủ tịch Hội
đồng, đại diện
Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tổ chức tiêu hủy là thành viên và đại diện
cơ quan
chuyên môn tham gia Hội đồng khi cần thiết. Như vậy, đại diện cơ quan tài
chính cùng cấp
không còn là đại diện bắt buộc trong Hội đồng tiêu huỷ mà tuỳ trường
hợp cần thiết
thì mới mời đại diện cơ quan tài chính cùng cấp tham gia.
Riêng đối với
Hội đồng tiêu huỷ vật chứng, tài sản do cơ quan THADS cấp
quân khu
thành lập thì thành phần hội đồng bao gồm: Chấp hành viên là Chủ tịch
Hội đồng, đại
diện cơ quan tài chính cùng cấp là thành viên và đại diện cơ quan
chuyên môn
tham gia Hội đồng khi cần thiết.
- Thứ tư, Luật
THADS năm 2025 đã bổ sung quy định tại khoản 2 Điều 58 về
quyền hạn của
Hội đồng tiêu huỷ, theo đó “Hội đồng tiêu hủy vật chứng, tài sản
quyết định
cách thức tiêu hủy vật chứng, tài sản phù hợp với quy định của pháp luật
có liên
quan.”
72
Câu 64. Luật
THADS năm 2025 có những quy định sửa đổi, bổ sung nào về
việc trả lại
tiền, tài sản so với Luật THADS năm 2008?
Đáp:
Việc trả lại
tiền, tài sản cho đương sự được quy định tại Điều 59 Luật THADS
năm 2025,
theo đó, so với Luật THADS năm 2008 có một số nội dung sửa đổi, bổ
sung như
sau:
- Thứ nhất,
bỏ thủ tục “Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định
trả lại tiền,
tài sản tạm giữ trong trường hợp bản án, quyết định tuyên trả lại tài sản
cho đương sự”
vì không cần thiết, Luật đã quy định Thủ trưởng cơ quan THADS ra
quyết định
thi hành án chủ động đối với khoản này.
- Thứ hai, bổ
sung thời hạn cơ quan thi hành án dân sự thông báo cho đương
sự về việc
nhận tài sản là 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định thi hành án (Luật
hiện hành chỉ
quy định thủ tục thông báo này nhưng không quy thời hạn).
- Thứ ba, bổ
sung các trường hợp là căn cứ để thực hiện việc trả lại tiền, tài
sản cho
đương sự: bên cạnh trường hợp bản án, quyết định tuyên trả lại tiền, tài sản
cho đương sự,
Luật đã bổ sung các trường hợp cơ quan THADS thực hiện việc trả lại
tiền, tài sản
cho đương sự. Các trường hợp này được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều
81, khoản 6
Điều 54, khoản 1 Điều 89, khoản 3 Điều 90 Luật THADS năm 2025.
- Thứ năm,
giảm thời hạn từ 03 tháng (90 ngày) xuống còn 30 ngày kể từ ngày
được thông
báo mà đương sự không đến nhận tài sản thì Chấp hành viên thực hiện
thủ tục thẩm
định giá, xác định giá, bán tài sản theo quy định. Bên cạnh đó, bổ sung
quy định đối
với những loại tài sản trả lại đương sự là hàng hoá, vật phẩm dễ bị hưu
hỏng thì hết
thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày được thông báo mà đương sự
không đến nhận
thì Chấp hành viên bán tài sản theo quy định (khoản 1 Điều 59).
- Thứ tư, bổ
sung hình thức Chấp hành viên gửi số tiền mà đương sự không
đến nhận hoặc
không cung cấp số tài khoản nhận tiền hoặc số tiền thu được từ việc
bán tài sản
mà đương sự không đến nhận. Theo đó, bên cạnh hình thức tiết kiệm
không kỳ hạn
thì Chấp hành viên có thể gửi số tiền đó vào Kho bạc nhà nước. Đây
là quy định
mới nhằm tạo sự linh hoạt cho Chấp hành viên trong việc lựa chọn hình
thức gửi số
tiền nêu trên.
- Thứ năm, bổ
sung quy định, “Trường hợp người được nhận tiền, tài sản đến
nhận hoặc
cung cấp số tài khoản nhận tiền thì cơ quan thi hành án dân sự chi tiền, trả
tài sản cho
người được nhận, sau khi trừ chi phí bảo quản, xử lý tài sản (nếu có). Phần
lãi tiền gửi
(nếu có) được cộng vào số tiền gửi ban đầu và trả cho người được nhận.”.
- Thứ sáu, đối
với tài sản không bán được hoặc bị hư hỏng không còn giá trị sử
dụng: theo
quy định của Luật hiện hành Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải
ra quyết định
tiêu hủy và tổ chức tiêu hủy tài sản theo quy định. Luật THADS năm
73
2025 đã bổ
sung cụm từ “mà đương sự không đến nhận” thì Thủ trưởng cơ quan thi
hành án dân
sự phải ra quyết định tiêu hủy và tổ chức tiêu hủy tài sản theo quy định.
- Thứ bảy,
giảm thời hạn từ 01 năm xuống 03 tháng đối với giấy tờ liên quan
đến tài sản,
nhân thân của đương sự mà đương sự không đến nhận thì Chấp hành viên
làm thủ tục
chuyển giao cho cơ quan đã ban hành giấy tờ đó để xử lý theo quy định.
Câu 65. Luật
THADS năm 2025 có những quy định sửa đổi, bổ sung nào về
việc xử lý
tài sản mà bản án, quyết định tuyên kê biên để bảo đảm thi hành án so với
Luật THADS
năm 2008?
Đáp:
Việc xử lý
tài sản mà bản án, quyết định tuyên kê biên để bảo đảm thi hành án
được quy định
tại Điều 60 Luật THADS, theo đó, về cơ bản Luật THADS năm 2025
giữ nguyên
quy định về việc đối với tài sản mà bản án, quyết định tuyên kê biên để
bảo đảm thi
hành án, Chấp hành viên thực hiện các thủ tục thẩm định giá, xác định
giá, bán tài
sản theo quy định của Luật (khoản 1 Điều 60). Bên cạnh đó, bổ sung quy
định tại khoản
2 Điều 60, cụ thể:
- Trường hợp
hiện trạng tài sản thực tế khác với biên bản kê biên, lệnh kê biên,
quyết định
kê biên hoặc giấy tờ đăng ký quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất thì
trước khi thực
hiện theo quy định tại khoản 1 Điều này, cơ quan thi hành án dân sự
đề nghị cơ
quan đã kê biên giải thích. Căn cứ kết quả giải thích, cơ quan thi hành án
dân sự xử lý
như sau:
+ Trường hợp
việc kê biên không đúng hiện trạng tài sản thực tế thì cơ quan
thi hành án
dân sự đề nghị Tòa án giải thích hoặc kiến nghị người có thẩm quyền
kháng nghị
theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. Văn bản trả lời của Tòa án là căn
cứ để cơ
quan thi hành án dân sự xử lý tài sản;
+ Trường hợp
có căn cứ xác định tài sản thay đổi sau thời điểm kê biên hoặc
hết thời hạn
trả lời theo quy định của pháp luật mà không nhận được văn bản trả lời
của Tòa án
quy định tại điểm a khoản này thì cơ quan thi hành án dân sự xử lý theo
hiện trạng
tài sản thực tế theo quy định của Luật này và quy định của luật có liên quan.
Đây là quy định
mới so với Luật THADS năm 2008, quy định này đã khắc
phục một khoảng
trống pháp lý tồn tại trong thời gian dài. Trước đây, pháp luật chưa
quy định rõ
cách thức xử lý khi có sự chênh lệch giữa hồ sơ kê biên và hiện trạng tài
sản, dẫn đến
lúng túng trong tổ chức thi hành án, phát sinh khiếu nại, tố cáo hoặc kéo
dài thời
gian xử lý tài sản. Quy định mới đã thiết lập trình tự xử lý chặt chẽ, theo đó
cơ quan thi
hành án dân sự phải đề nghị cơ quan đã kê biên hoặc Tòa án giải thích
để làm rõ
nguyên nhân chênh lệch; trường hợp việc kê biên không đúng hiện trạng
thì văn bản
trả lời của Tòa án là căn cứ để xử lý, bảo đảm nguyên tắc tôn trọng bản
án, quyết định
của Tòa án; trường hợp tài sản thay đổi sau thời điểm kê biên hoặc hết
74
thời hạn mà
không nhận được văn bản trả lời thì cơ quan thi hành án dân sự được xử
lý theo hiện
trạng thực tế. Vừa bảo đảm trách nhiệm của cơ quan ra bản án, vừa tăng
tính chủ động
và trách nhiệm của cơ quan thi hành án dân sự, hạn chế tình trạng vụ
việc bị kéo
dài do chờ ý kiến giải thích, đồng thời nâng cao tính minh bạch, an toàn
pháp lý cho
Chấp hành viên và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên đương
sự; sẽ cắt
giảm rất nhiều thủ tục cho cơ quan THADS (như: phải cho đương sự thỏa
thuận xử lý,
trao đổi, làm việc với các cơ quan liên quan để tháo gỡ, thống nhất hướng
giải quyết
việc tài sản không như hiện trạng...).
Câu 66. Các
quy định về việc thi hành án đối với người đang chấp hành hình
phạt tù được
quy định tại Luật THADS năm 2025 như thế nào?
Đáp:
Việc thi
hành án đối với người đang chấp hành hình phạt tù được quy định tại
Điều 61 Luật
THADS năm 2025, tuy nhiên, Luật THADS năm 2025 chỉ quy định về
trách nhiệm
của trại giam, trại tạm giam nơi người phải thi hành án, người được thi
hành án đang
chấp hành phạt tù trong việc phối hợp tổ chức thi hành án. Còn các quy
định cụ thể
về Thu án phí, tiền phạt và các khoản phải thu khác đối với người phải
thi hành án
đang chấp hành hình phạt tù (Điều 128 Luật hiện hành), Thủ tục trả lại
tiền, tài sản
cho người được thi hành án đang chấp hành hình phạt tù (Điều 129 Luật
hiện hành)
đã được Luật giao Chính phủ quy định chi tiết.
Câu 67. Luật
THADS năm 2025 có những quy định sửa đổi, bổ sung nào về
thi hành quyết
định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời so với Luật THADS năm
2008?
Đáp:
Việc thi
hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định
tại Điều 62
Luật THADS năm 2025. Về cơ bản, Luật THADS năm 2025 tiếp tục kế
thừa các quy
định tại Luật THADS năm 2008, tuy nhiên, có một số nội dung sửa đổi,
bổ sung như
sau:
- Thứ nhất,
tại khoản 1 Điều 130 Luật THADS năm 2008 quy định trong thời
hạn 24 giờ,
kể từ khi nhận được quyết định thi hành án, Chấp hành viên phải áp dụng
ngay các biện
pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế để tổ chức thi hành quyết định áp
dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời. Tuy nhiên, Luật THADS năm 2025 đã bổ sung
rất mới so với
quy định hiện hành, cụ thể: “Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận
được quyết định
thi hành án theo phân công, Chấp hành viên thông báo quyết định
thi hành án
cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc thi hành
quyết định
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để thi hành.” (khoản 1 Điều 62).
75
Đây là một
bước để xác định trách nhiệm và thể hiện tính kịp thời của việc thi hành
loại quyết định
đặc thù, mang tính khẩn cấp, tạm thời.
- Thứ hai, về
thủ tục thực hiện:
+ Thủ tục
thi hành các Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được
sửa đổi theo
hướng phân loại từng dạng quyết định khẩn cấp tạm thời như: về hành
vi, về tài sản,
về kê biên. Khi thực hiện, Chấp hành viên phải ra ngay quyết định
cưỡng chế và
kịp thời tổ chức thi hành án trong một số trường hợp cụ thể thay vì phải
áp dụng ngay
cả các biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế như luật hiện hành
(khoản 2 Điều
62).
+ Bỏ thủ tục
Chấp hành viên áp dụng biện pháp bảo đảm để thi hành các quyết
định về cấm
chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp; cấm thay
đổi hiện trạng
tài sản đang tranh chấp; phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín
dụng khác;
phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ; phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ
(điểm d khoản
1 Điều 130 Luật hiện hành) vì không cần thiết do bản chất các loại
Quyết định
khẩn cấp tạm thời này không phát sinh thủ tục tổ chức thi hành mà chỉ
thực hiện việc
ra quyết định thi hành án và thông báo quyết định đó theo thủ tục
chung của Luật
này;
+ Bỏ thủ tục
kê biên, xử lý tài sản để thi hành quyết định khẩn cấp tạm thời về
cho thu hoạch,
cho bán hoa màu hoặc sản phẩm hàng hoá khác (điểm đ khoản 1 Điều
130 Luật hiện
hành). Thay vào đó, Luật THADS năm 2025 xác định đây là quyết
định có nội
dung mang tính chất buộc đương sự thực hiện hành viên nhất định. Khi
thực hiện,
Chấp hành viên cần áp dụng biện pháp cưỡng chế quy định tại khoản 6
Điều 71 Luật
THADS năm 2025 (Buộc thực hiện hoặc không được thực hiện công
việc nhất định)
để tổ chức thi hành (điểm a khoản 2 Điều 62).
+ Bổ sung thủ
tục thi hành loại Quyết định khẩn cấp tạm thời về “yêu cầu bảo
tồn, cất trữ,
bán tài sản của một hoặc các bên tranh chấp” để thống nhất với Bộ luật
Tố tụng dân
sự. Việc tổ chức thi hành loại quyết định này được thực hiện theo quy
định tại điểm
a khoản 2 Điều 62 Luật THADS năm 2025.
+ Bổ sung
quy định: “Việc thi hành quyết định về bắt giữ tàu bay, tàu biển để
thi hành án
thực hiện theo quy định của pháp luật bắt giữ tàu bay, tàu biển”.
- Thứ ba,
quy định rõ hơn về thủ tục cơ quan thi hành án dân sự gửi văn bản,
quyết định về
thi hành án cho cơ quan đã ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời,
trường hợp không thi hành được thì phải nêu rõ lý do để đảm bảo tính
thông tin kịp
thời trong việc thi hành loại quyết định đặc thù này.
Câu 68. Luật
THADS năm 2025 có những quy định sửa đổi, bổ sung nào về
thi hành quyết
định giám đốc thẩm, tái thẩm so với Luật THADS năm 2008?
76
Đáp:
Việc thi
hành quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm được quy định tại Điều 63
Luật THADS
năm 2025. Theo đó, quy định này được xây dựng trên cơ sở sắp xếp,
hợp nhất các
Điều 134, 135, 136 Luật THADS năm 2008 và sửa đổi, bổ sung một số
nội dung, cụ
thể như sau:
- Thứ nhất,
về trường hợp quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm tuyên giữ
nguyên bản
án, quyết định (khoản 1 Điều 63): Cơ bản giữ nguyên Điều 134, có sửa
đổi cụm từ
“chưa thi hành hoặc đã thi hành được một phần” thành “đang thi hành”
để phù hợp với
thủ tục ra quyết định tiếp tục thi hành.
- Thứ hai, đối
với trường hợp quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm tuyên huỷ
toàn bộ bản
án, quyết định (khoản 2 Điều 63): được xây dựng trên cơ sở hợp nhất
Điều 135 Luật
hiện hành, đồng thời có sửa đổi, bổ sung bảo đảm rõ về thủ tục đối
với từng trường
hợp cụ thể:
+ Trường hợp
quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm tuyên hủy toàn bộ bản án,
quyết định
mà bản án, quyết định đó chưa thi hành được phần nào thì Thủ trưởng cơ
quan thi
hành án dân sự ra quyết định đình chỉ việc thi hành án.
Ví dụ: Bản
án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực A, tỉnh B tuyên
buộc ông
Nguyễn Văn M phải trả cho bà Trần Thị N số tiền 600 triệu đồng và chịu
án phí theo
quy định. Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, Cơ quan thi hành án dân
sự tỉnh B đã
ra quyết định thi hành án nhưng chưa thu được khoản tiền nào, chưa áp
dụng biện
pháp cưỡng chế và chưa thi hành được phần nghĩa vụ nào. Trong thời gian
tổ chức thi
hành án, Tòa án cấp cao ban hành quyết định giám đốc thẩm tuyên hủy
toàn bộ bản
án sơ thẩm để xét xử lại. Trong trường hợp này, do bản án bị hủy toàn
bộ và chưa
thi hành được phần nào, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết
định đình chỉ
việc thi hành án.
+ Trường hợp
quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm tuyên hủy toàn bộ bản án,
quyết định
mà bản án, quyết định đó đã thi hành được một phần thì Thủ trưởng cơ
quan thi
hành án dân sự ra quyết định đình chỉ đối với phần chưa thi hành xong.
Ví dụ: Bản
án có hiệu lực pháp luật tuyên buộc Công ty X phải trả cho Công
ty Y số tiền
3 tỷ đồng và giao trả một máy móc thiết bị. Cơ quan thi hành án dân sự
đã thu được
1 tỷ đồng từ tài khoản của Công ty X nhưng chưa thi hành phần nghĩa
vụ còn lại
và chưa tổ chức giao trả máy móc. Sau đó, quyết định giám đốc thẩm tuyên
hủy toàn bộ
bản án để xét xử lại. Trong trường hợp này, Thủ trưởng cơ quan thi hành
án dân sự ra
quyết định đình chỉ đối với phần nghĩa vụ chưa thi hành xong (2 tỷ đồng
còn lại và
nghĩa vụ giao máy móc), còn phần đã thi hành được xử lý hậu quả theo
quyết định
giám đốc thẩm và bản án mới.
+ Trường hợp
quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm tuyên hủy một phần bản án,
quyết định
thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định đình chỉ đối với
77
phần bị hủy
nhưng chưa thi hành xong và ra quyết định tiếp tục thi hành án đối với
phần không bị
hủy.
Ví dụ: Bản
án tuyên buộc ông L phải trả cho bà H số tiền 900 triệu đồng, đồng
thời buộc
ông L tháo dỡ công trình xây dựng trái phép trên đất của bà H. Cơ quan thi
hành án dân
sự đã thu được 400 triệu đồng nhưng chưa tổ chức tháo dỡ công trình.
Sau đó, quyết
định giám đốc thẩm tuyên hủy phần bản án liên quan đến nghĩa vụ
tháo dỡ công
trình, giữ nguyên phần nghĩa vụ trả tiền. Trong trường hợp này, Thủ
trưởng cơ
quan thi hành án dân sự ra quyết định đình chỉ thi hành án đối với phần
nghĩa vụ
tháo dỡ công trình (phần bị hủy) và ra quyết định tiếp tục thi hành án đối
với phần
nghĩa vụ trả số tiền còn lại 500 triệu đồng.
+ Bỏ quy định
tại khoản 3 Điều 135 Luật hiện hành: “Đối với phần bản án,
quyết định của
Tòa án hủy, sửa bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới mà đã thi
hành được một
phần hoặc đã thi hành xong thì đương sự có thể thỏa thuận với nhau
về việc hoàn
trả tài sản, phục hồi lại quyền tài sản. Trường hợp tài sản thi hành án là
động sản phải
đăng ký quyền sở hữu và bất động sản còn nguyên trạng thì cưỡng chế
trả lại tài
sản đó cho chủ sở hữu. Trường hợp tài sản đã được chuyển dịch hợp pháp
cho người thứ
ba chiếm hữu ngay tình thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với
người mà
theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu
tài sản
nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết
định bị hủy,
sửa hoặc tài sản thi hành án đã bị thay đổi hiện trạng thì chủ sở hữu tài
sản ban đầu
không được lấy lại tài sản nhưng được bồi hoàn giá trị của tài sản. Trường
hợp có yêu cầu
về bồi thường thiệt hại thì cơ quan ra bản án, quyết định bị hủy, sửa
giải quyết
theo quy định của pháp luật”. Lý do: Những quy định mang tính nguyên
tắc trên đã
được các Luật khác quy định như: Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng dân
sự, Luật
Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Những nội dung về thủ tục thì không
thể thực hiện
được trên thực tế, trình tự cũng không rõ là bồi hoàn theo Luật Trách
nhiệm bồi
thường nhà nước hay cơ chế nào khác, cơ quan nào giải quyết, quyền lợi
của các bên
sẽ do cơ quan nào quyết định.
- Thứ ba, đối
với trường hợp quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm tuyên sửa
một phần hoặc
toàn bộ bản án, quyết định: cơ bản thì việc thi hành án được thực hiện
theo quyết định
giám đốc thẩm, tái thẩm. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra
quyết định
tiếp tục thi hành án và quyết định sửa đổi, bổ sung quyết định thi hành án
đã ban hành
phù hợp với nội dung quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm (khoản 3 Điều
63).
- Thứ tư, bổ
sung quy định “Trường hợp bản án, quyết định bị kháng nghị đã
thi hành được
một phần hoặc đã thi hành xong thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án
dân sự thông
báo cho người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm,
tái thẩm, Viện
kiểm sát có thẩm quyền và đương sự. Việc giải quyết hậu quả đối với
phần bản án,
quyết định đã được thi hành xong nhưng bị hủy được thực hiện theo
78
quyết định
giám đốc thẩm, tái thẩm và bản án, quyết định mới.” tại khoản 4 Điều 63
để thống nhất
với Điều 27, 344, 346, 347 Bộ luật tố tụng dân sự.
Câu 69. Luật
THADS năm 2025 có những quy định sửa đổi, bổ sung nào về
thi hành quyết
định tuyên bố phá sản so với Luật THADS năm 2008?
Đáp:
Việc thi
hành quyết định tuyên bố phá sản được quy định tại ĐIều 64 Luật
THADS năm
2025. Theo đó, Điều này được cơ cấu, sắp xếp lại trên cơ sở Điều 137
Luật THADS
năm 2008, bên cạnh đó có một số sửa đổi, bổ sung cụ thể như sau:
- Thứ nhất,
Luật THADS năm 2025 đã bổ sung quy định dẫn chiếu việc thi
hành quyết định
tuyên bố phá sản của Toà án được thực hiện theo quy định của Luật
Phục hồi,
phá sản và Luật THADS. Lý do: ngày 11/12/2025, Quốc hội đã thông qua
Luật Phục hồi,
phá sản số 142/2025/QH15. Theo đó, Luật Phục hồi, phá sản năm
2025 đã quy
định về thi hành quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản.
Đồng thời,
hiện nay, Bộ Tư pháp đã Nghị định số 64/2025/NĐ-CP ngày 28/02/2026
quy định chi
tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phục hồi, phá sản về thi
hành quyết định
tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản, có hiệu lực từ ngày
01/3/2026.
Ngày 17/3/2026, Cục Quản lý THADS có Công văn số
850/CQLTHADS-BPC&NVTHADS
triển khai Nghị định số 64/2026/NĐ-CP trong
toàn Hệ thống,
trong đó có lưu ý một số nội dung để các cơ quan, đơn vị nghiên cứu
thực hiện.
- Thứ hai, về
việc tạm đình chỉ, đình chỉ thi hành đối với các trường hợp thi
hành về tài
sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã là người phải thi hành án: hiện Luật
THADS năm
2025 đã đưa căn cứ quy định về việc tạm đình chỉ, đình chỉ tại khoản
1 và khoản 2
Điều 137 Luật hiện hành sang Điều 47 (về tạm đình chỉ), Điều 48 (về
đình chỉ) Luật
THADS năm 2025, đồng thời, sửa đổi, bổ sung cụ thể:
+ Về tạm
đình chỉ: Luật THADS năm 2008 chỉ quy định sau khi nhận được
văn bản của
Tòa án thông báo về việc thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, Thủ
trưởng cơ
quan thi hành án dân sự ra quyết định tạm đình chỉ đối với các trường hợp
thi hành về
tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã là người phải thi hành án theo quy
định tại khoản
2 Điều 49 của Luật này. Trong khi đó, Luật THADS năm 2025 quy
định tại điểm
a khoản 1 Điều 47, cơ quan THADS ra quyết định tạm đình chỉ đối với
trường hợp
thi hành nghĩa vụ về tài sản mà nhận được thông báo của Tòa án về việc
đã thụ lý
đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi hoặc áp dụng thủ tục phá sản đối với
người phải
thi hành án, trừ trường hợp bản án, quyết định buộc doanh nghiệp, hợp
tác xã bồi
thường về tính mạng, sức khỏe, danh dự hoặc trợ cấp thôi việc, trả lương
cho người
lao động; quyết định kê biên tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã để sung
vào công quỹ
nhà nước; bản án, quyết định buộc doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện
nghĩa vụ được
bảo đảm bằng tài sản của bên thứ ba hoặc trường hợp khác theo quy
79
định của
pháp luật; Như vậy, Luật THADS năm 2025 có quy định bổ sung những
trường hợp
ngoại lệ, cơ quan THADS không ban hành quyết định tạm đình chỉ.
Ví dụ: Công
ty cổ phần Minh Phát bị Tòa án nhân dân khu vực H, tỉnh A tuyên
buộc phải trả
cho Công ty An Khang số tiền 5 tỷ đồng theo hợp đồng mua bán hàng
hóa. Sau khi
bản án có hiệu lực pháp luật, Cơ quan thi hành án dân sự tỉnh A đã ra
quyết định
thi hành án và đang tiến hành xác minh điều kiện thi hành thì nhận được
thông báo của
Tòa án nhân dân tỉnh H về việc đã thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá
sản đối với
Công ty Minh Phát. Do đây là nghĩa vụ thanh toán tiền phát sinh từ quan
hệ hợp đồng
(nghĩa vụ về tài sản thông thường) và không thuộc trường hợp loại trừ,
Thủ trưởng
cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án
đối với khoản
nợ 5 tỷ đồng này.
Tuy nhiên,
trong cùng thời điểm, Công ty Minh Phát còn phải thi hành một
bản án khác
của Tòa án nhân dân khu vực H, tỉnh A buộc công ty trả tiền lương còn
nợ và trợ cấp
thôi việc cho 20 người lao động với tổng số tiền 800 triệu đồng. Mặc
dù Tòa án đã
thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, nhưng do
nghĩa vụ này
thuộc trường hợp loại trừ (trả lương, trợ cấp thôi việc cho người lao
động), Thủ
trưởng cơ quan thi hành án dân sự không ra quyết định tạm đình chỉ mà
vẫn tiếp tục
tổ chức thi hành án đối với khoản tiền lương và trợ cấp thôi việc theo
quy định.
+ Về đình chỉ
thi hành án: Luật THADS năm 2008 chỉ quy định Thủ trưởng
cơ quan
THADS ra quyết đình đình chỉ thi hành án khi nhận được Quyết định của
Toà án về việc
mở thủ tục phá sản. Tuy nhiên, Luật THADS năm 2025 đã bổ sung
01 căn cứ để
Thủ trưởng cơ quan THADS ra quyết định đình chỉ thi hành án tại
khoản 7 Điều
49: “Nhận được thông báo của Tòa án về việc đình chỉ thủ tục phục
hồi hoạt động
kinh doanh đối với người phải thi hành án theo quy định của Luật Phục
hồi, phá sản
trong trường hợp nghĩa vụ về tài sản bị tạm đình chỉ đã được thanh toán”
và giữ
nguyên căn cứ đình chỉ “Nhận được quyết định mở thủ tục phá sản của Tòa
án đối với
người phải thi hành án.” để phù hợp, thống nhất với Luật Phục hồi, phá
sản năm
2025.
- Thứ ba, về
căn cứ ra quyết định tiếp tục tiếp tục thi hành án: do căn cứ để cơ
quan THADS
đình chỉ thi hành án trong trường nhận được thông báo của Tòa án về
việc đình chỉ
thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh đối với người phải thi hành án
theo quy định
của Luật Phục hồi, phá sản trong trường hợp nghĩa vụ về tài sản bị tạm
đình chỉ đã
được thanh toán, do đó, cơ quan THADS sẽ không có cơ sở để tiếp tục
thi hành án.
Do đó, tại khoản 2 Điều 64 Luật THADS năm 2025 chỉ quy định: “2.
Trong thời hạn
05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định đình chỉ thủ tục
phá sản của
Tòa án thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thu hồi
quyết định
đình chỉ thi hành án và tiếp tục thi hành án theo quy định của Luật này.”.
80
- Thứ tư, lược
bỏ quy định về trách nhiệm, thời hạn gửi quyết định đình chỉ
tiến hành thủ
tục phá sản hoặc đình chỉ phục hồi kinh doanh của Thẩm phán quy định
tại khoản 3
Điều 137 Luật THADS hiện hành, bởi quy định này được thực hiện theo
pháp luật
chuyên ngành về phục hồi, phá sản.
Câu 70. Luật
THADS năm 2025 có những quy định sửa đổi, bổ sung nào về
thi hành án
trong trường hợp người phải thi hành án là người nước ngoài hoặc có
điều kiện
thi hành án ở nước ngoài so với Luật THADS năm 2008?
Đáp:
Luật THADS
năm 2008 chỉ quy định về tương trợ tư pháp trong thi hành án
dân sự.
Trong khi đó, thực tiễn công tác THADS phát sinh rất nhiều vướng mắc trong
việc tổ chức
thi hành án có đương sự, nhất là người phải thi hành án là người nước
ngoài hoặc
có điều kiện thi hành án ở nước ngoài. Do đó, Luật THADS năm 2025
đã căn cứ
quy định tại Điều 181 Luật THADS năm 2008, Luật Tương trợ tư pháp;
Luật Giao dịch
điện tử và các quy định khác có liên quan để xây dựng quy định tại
Điều 65 Luật
THADS năm 2025 hướng dẫn về việc thi hành án trong trường hợp
người phải
thi hành án là người nước ngoài hoặc có điều kiện thi hành án ở nước
ngoài, cụ thể:
- Thứ nhất,
quy định cụ thể việc áp dụng trình tự, thủ tục thi hành án theo quy
định của Luật
THADS đối với trường hợp người phải thi hành án là người nước ngoài
(khoản 1 Điều
65).
- Thứ hai,
quy định đối với trường hợp người phải thi hành án là công dân Việt
Nam hoặc là
người nước ngoài mà có điều kiện thi hành án ở nước ngoài thì cơ quan
THADS, Chấp
hành viên thực hiện như sau:
+ Đối với bản
án, quyết định hình sự tuyên tịch thu, trả lại, xử lý vật chứng,
tài sản mà
tài sản đó ở nước ngoài thì cơ quan thi hành án dân sự phải phối hợp với
cơ quan có
thẩm quyền để yêu cầu xử lý tài sản theo quy định của pháp luật tương
trợ tư pháp
về hình sự.
+ Đối với
các bản án, quyết định khác mà người phải thi hành án có điều kiện
thi hành án ở
nước ngoài thì cơ quan thi hành án dân sự hướng dẫn người được thi
hành án về
quyền yêu cầu công nhận, cho thi hành bản án, quyết định đó ở nước ngoài.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét