Mục 1 THỦ TỤC THI HÀNH ÁN

 Mục 1

THỦ TỤC THI HÀNH ÁN

Câu 28. Theo Luật Thi hành án dân sự năm 2025, cơ quan nào có thẩm quyền tổ chức thi hành án?


Câu 29. Cơ quan THADS tỉnh, thành phố có thẩm quyền thi hành những bản án, quyết định nào?


Câu 30. Cơ quan THADS cấp quân khu và tương đương có thẩm quyền thi hành những bản án, quyết định nào?


Câu 31. Bản án sơ thẩm số XXX của TAND khu vực T, tỉnh H có nội dung: Ông A phải trả ông B số tiền 150.000.000 đồng. Bản án không có kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Hỏi: Ông B có thể yêu cầu cơ quan nào tổ chức thi hành án.


Câu 32. Cơ quan đã ra bản án, quyết định phải chuyển giao bản án, quyết định đó cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.

Hỏi: Nhận định trên đúng hay sai? Tại sao?


Câu 33. Luật THADS năm 2025 đã có những quy định mới nào về việc ra quyết định thi hành án so với Luật THADS năm 2008?


Câu 34. Phán quyết trọng tài số 03/2026/PQ-TT ngày 17/7/2026 của Hội đồng trọng tài thuộc Trung tâm trọng tài QVN tại tỉnh H có nội dung buộc Công ty A có nghĩa vụ thanh toán tiền thuê mặt bằng cho Công ty B với tổng cộng số tiền 576.464.143 đồng ngay khi phán quyết có hiệu lực. Trường hợp chậm thanh toán, Công ty A phải tiếp tục thanh toán tiền lãi do chậm trả theo quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015, với mức lãi suất 10%/năm, tương ứng với số tiền chậm trả và thời gian chậm trả. Ngày 30/7/2025, công ty B làm đơn đề nghị cơ quan THADS tỉnh H tổ chức thi hành nội dung phán quyết trọng tài.

  • Hỏi: Trường hợp này, cơ quan THADS tỉnh H có ra quyết định thi hành án theo yêu cầu của Công ty B hay không? Căn cứ pháp lý?


Câu 35. Bản án XXX ngày 22/2/2024 của Toà án nhân dân tỉnh K có nội dung buộc Ông A phải trả cho Ông B số tiền 1.500.000.000 đồng. Căn cứ đơn đề nghị thi hành án của ông B, cơ quan THADS tỉnh K đã thụ lý tổ chức thi hành vụ việc. Quá trình tổ chức thi hành án, kết quả xác minh cho thấy ông A không có tài sản để thi hành án, chỉ có thu nhập nhưng thu nhập chỉ đảm bảo cuộc sống tối thiểu cho Ông A và con do Ông A nuôi dưỡng. Ngày 22/6/2024, cơ quan THADS tỉnh K ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án. Chấp hành viên đã thực hiện xác minh định kỳ theo quy định của Luật THADS 2008 và cũng không nhận được thông tin về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án. Do đó, ngày 22/7/2026, cơ quan THADS đã gửi lại yêu cầu thi hành án của ông B. Đến ngày 15/2/2030, Ông B có đơn đề nghị cơ quan THADS tỉnh K tổ chức thi hành án và cung cấp điều kiện thi hành án của ông A (ông A có quyền sử dụng đất). Tuy nhiên, đơn của ông bị cơ quan THADS từ chối thụ lý vì cho rằng đã hết thời hiệu yêu cầu thi hành án (quá 05 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực).

  • Hỏi: Trường hợp này, cơ quan THADS từ chối thụ lý đơn yêu cầu thi hành án của ông B có đúng quy định pháp luật hay không?


Câu 36. Việc thông báo thi hành án theo Luật THADS năm 2025 có những điểm mới nào so với Luật THADS năm 2008?


 

Câu 37. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận việc thi hành án hay không?

 

Câu 38. Việc xác minh điều kiện thi hành án theo Luật THADS năm 2025 có những điểm mới nào so với Luật THADS năm 2008?


Câu 39. Luật THADS năm 2025 đã quy định những căn cứ nào để Thủ trưởng cơ quan THADS ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án?


Câu 40. Bản án sơ thẩm số XXX ngày 15/8/2026 của Toà án nhân dân tỉnh H có nội dung buộc Ông A phải trả cho Ông B số tiền 1.500.000.000 đồng và lãi suất chậm thi hành án. Quá trình tổ chức thi hành án, Chấp hành viên xác minh ông A có tài sản duy nhất là Quyền sử dụng đất YYY hiện đang thế chấp cho Ngân hàng S để bảo đảm cho khoản vay 1.350.000.000 đồng, giá trị tài sản khoảng 1.600.000.000 đồng và thu nhập tiền lương hàng tháng là 8.000.000 đồng. Căn cứ kết quả xác minh, Chấp hành viên bản hành quyết định kê biên quyền sử dụng đất của ông A và đưa tài sản ra bán đấu giá. Giá khởi điểm là 1.600.000.000 đồng. Tuy nhiên, tài sản bán đấu giá nhiều lần không thành, sau khi giảm giá tài sản còn 1.300.000.000 đồng, Chấp hành viên nhận thấy, giá trị của tài sản sau giảm giá thấp hơn chi phí thi hành án và nghĩa vụ được bảo đảm cho ngân hàng nên đã trình Thủ trưởng cơ quan THADS tỉnh H ban hành Quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án.

  • Hỏi: Việc Thủ trưởng cơ quan THADS tỉnh H ban hành Quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án có phù hợp với quy định pháp luật hay không? Tại sao?


Câu 41. Bản án sơ thẩm số XXX của Toà án nhân dân tỉnh H có nội dung: buộc ông Nguyễn Văn A phải xin lỗi, cải chính công khai bà Trần Thị B bằng hình thức tự mình công khai xin lỗi công khai bà B trên phương tiện thông tin đại chúng do đăng tải thông tin sai sự thật trong thời hạn 07 ngày liên tục kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Căn cứ yêu cầu thi hành án của bà B, cơ quan THADS ra quyết định thi hành án. Quá trình tổ chức thi hành án, Chấp hành viên nhận thấy ông Nguyễn Văn A luôn có biểu hiện chống đối và người thân trong gia đình của ông A cung cấp thông tin ông A thời gian gần đây bị tâm thần, không thể điều khiển hành vi dân sự của mình do đó không đủ điều kiện thi hành án. Theo đề nghị của Chấp hành viên, Thủ trưởng cơ quan THADS tỉnh H ban hành Quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án.

Hỏi: Việc Thủ trưởng cơ quan THADS tỉnh H ban hành Quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án có phù hợp với quy định pháp luật hay không? Tại sao?


Câu 42. Trường hợp người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án thì Chấp hành viên thực hiện xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án như thế nào?


 

Câu 43. Trường hợp thi hành án theo yêu cầu mà hết thời hạn 02 năm kể từ ngày có quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án và đã xác minh định kỳ mà không có thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì cơ quan THADS sẽ thực hiện thủ tục gì?


Câu 44. Luật THADS năm 2025 đã có những nội dung sửa đổi, bổ sung nào đối với việc xác định tài sản và xử lý tranh chấp tài sản của người phải thi hành án so với Luật THADS năm 2008?


 

Câu 45. Trường hợp bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật tuyên kê biên, xử lý, công nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản mà tài sản đó có tranh chấp thì Chấp hành viên thông báo cho đương sự, người có tranh chấp về quyền khởi kiện tại Tòa án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết.

  • Hỏi: Khẳng định nêu trên có phù hợp với quy định pháp luật hay không?


Câu 46. Luật THADS năm 2025 có những quy định sửa đổi, bổ sung nào về việc chuyển giao quyền, nghĩa vụ thi hành án so với Luật THADS năm 2008?


Câu 47. Luật THADS năm 2025 có những quy định sửa đổi, bổ sung nào về các căn cứ để cơ quan THADS ra quyết định hoãn thi hành án so với Luật THADS năm 2008?


Câu 48. Bản án sơ thẩm số XXX của Tòa án nhân dân tỉnh H buộc DNTN thương mại dịch vụ NT (Chủ doanh nghiệp là bà M) phải trả ngân hàng A số tiền 42.000.000.000 đồng. Trường hợp DNTN thương mại dịch vụ NT không trả được nợ, cơ quan THADS có quyền xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất YYY đứng tên bà M và chồng là ông H để đảm bảo thi hành án. Tuy nhiên, do bà K đã khởi kiện tranh chấp hợp đồng mua bán quyền sử dụng đất trên với ông H, bà M và đã được Tòa án có thẩm quyền thụ lý giải quyết nên Cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định hoãn thi hành án.

Hỏi: Việc hoãn thi hành án của Cơ quan thi hành án dân sự có phù hợp với quy định của pháp luật không?



Câu 49. Luật THADS năm 2025 có những quy định sửa đổi, bổ sung nào về việc tạm đình chỉ thi hành án so với Luật THADS năm 2008?


Câu 50. Luật THADS năm 2025 có những quy định sửa đổi, bổ sung nào về việc đình chỉ thi hành án so với Luật THADS năm 2008?


Câu 51. Bản án sơ thẩm số XXX của Toà án nhân dân khu vực H, tỉnh M có nội dung buộc ông A phải trả cho bà B số tiền 2.000.000.000 đồng. Quá trình tổ chức thi hành án, xác minh ông A có tài sản là quyền sử dụng đất YYY. Chấp hành viên đã kê biên, xử lý tài sản. Ngày 25/12/026, đã bán đấu giá thành, người mua tài sản là bà C đã nộp đủ số tiền mua tài sản đấu giá. Tuy nhiên, đến ngày 30/12/2026, nhận được Bản án phúc thẩm số ZZZ của Toà án nhân dân tỉnh M tuyên huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm XXX của Toà án nhân dân khu vực H. Cơ quan THADS tỉnh M đã ra quyết định đình chỉ thi hành án. Bà C có đơn khiếu nại, đề nghị cơ quan THADS tỉnh M giao tài sản cho bà theo đúng Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá.

Hỏi: Việc đình chỉ thi hành án của Thủ trưởng cơ quan THADS tỉnh M có phù hợp quy định pháp luật hay không?


Câu 52. Luật THADS năm 2025 có những quy định sửa đổi, bổ sung nào về việc uỷ thác thi hành án so với Luật THADS năm 2008?

 

Câu 53. Bản án sơ thẩm XXX của Toà án nhân dân tỉnh H có nội dung tuyên buộc Công ty A (do ông C làm chủ) phải trả cho Ngân hàng M số tiền 15.000.000.000 đồng chậm nhất ngày 20/9/2026. Trường hợp Công ty A không trả thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan THADS xử lý các tài sản bảo đảm theo hợp đồng bảo đảm, bao gồm:

 

Câu 54. Luật THADS năm 2025 có những quy định sửa đổi, bổ sung nào về việc uỷ thác xử lý tài sản so với Luật THADS năm 2008?

 

Câu 55. Bản án sơ thẩm XXX của Toà án nhân dân tỉnh X có nội dung tuyên buộc ông A, bà B, ông C phải liên đới trả cho ông D số tiền 6 tỷ đồng. Cơ quan THADS tỉnh X đang tổ chức thi hành án. Qua xác minh cho thấy Ông A có 1 căn nhà tại tỉnh X, giá trị khoảng 2 tỷ đồng, Bà B không có tài sản tại tỉnh X, nhưng có 1 lô đất tại tỉnh Y, trị giá khoảng 3 tỷ đồng, Ông C có 1 xe ô tô tại tỉnh Z, trị giá khoảng 1,5 tỷ đồng. Cơ quan THADS tỉnh X xử lý tài sản xong tài sản của ông A tại địa bàn tỉnh X, đồng thời thực hiện uỷ thác cho cơ quan THADS tỉnh Y xử lý tài sản của bà B và uỷ thác cho cơ quan THADS tỉnh Z để xử lý tài sản của bà C để đảm bảo thi hành án.

  • Hỏi: Việc cơ quan THADS tỉnh X uỷ thác cho cơ quan THADS tỉnh Y, cơ quan THADS tỉnh X xử lý tài sản của bà B, ông C có phù hợp với quy định pháp luật hay không?


Câu 56. Bản án sơ thẩm số XXX của Toà án nhân dân tỉnh A có nội dung tuyên buộc ông M và bà N phải liên đới trả cho Ngân hàng K số tiền 4 tỷ đồng. Để đảm bảo thi hành án, Bản án tuyên kê biên, xử lý tài sản là Quyền sử dụng đất của ông M tại tỉnh A; kê biên, xử lý tài sản là Quyền sử dụng đất của bà N tại tỉnh B để đảm bảo thi hành án. Cơ quan THADS tỉnh A tổ chức thi hành. Kết quả xác minh cho thấy, Quyền sử dụng đất của ông M tại tỉnh A có giá trị khoảng 5 tỷ đồng; quyền sử dụng đất của bà N có giá trị khoảng 4 tỷ đồng. Cơ quan THADS tỉnh A đang thực hiện xử lý tài sản của ông M. Tuy nhiên, quá trình xử lý, nhận được Thông báo thụ lý của Toà án về việc giải quyết tranh chấp quyền sở hữu quyền sử dụng đất giữa ông M và bà H. Do tài sản bị Toà án thụ lý giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu, cơ quan THADS tỉnh A đã dừng việc xử lý tài sản. Đồng thời, thực hiện uỷ thác cho cơ quan THADS tỉnh B xử lý tài sản của bà N.

  • Hỏi: Cơ quan THADS tỉnh A thực hiện uỷ thác xử lý tài sản trong trường hợp này có phù hợp với quy định pháp luật hay không?

Câu 57. Luật THADS năm 2025 có những quy định sửa đổi, bổ sung nào về việc thu hồi, sửa đổi, bổ sung, huỷ quyết định về thi hành án so với Luật THADS năm 2008?


Câu 58. Luật THADS năm 2025 có những quy định sửa đổi, bổ sung nào về phí, chi phí thi hành án so với Luật THADS năm 2008?


Câu 59. Luật THADS năm 2025 có những quy định sửa đổi, bổ sung nào về thanh toán tiền thi hành án so với Luật THADS năm 2008?


Câu 60. Theo Bản án số 105/2026/LĐ-ST ngày 28/9/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh K thì Công ty TNHH S phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và lãi tính đến ngày 30/11/2024 là 1.5 tỷ đồng cho Bảo hiểm xã hội khu vực M trụ sở chính tại tỉnh K. Ngoài ra, Công ty TNHH S còn phải thi hành 116 Bản án, Quyết định của Tòa án để trả lương cho người lao động với tổng số tiền cả gốc và lãi 2.1 tỷ đồng; 09 Bản án, Quyết định của Tòa án để trả tiền công dân, tổ chức khác với tổng số tiền gốc và lãi 2.3 tỷ đồng. Tổng án phí phải thi hành là 200 triệu đồng. Cơ quan THADS tỉnh K đã ban hành Quyết định thi hành án cho thi hành khoản: buộc Công ty TNHH S thực hiện nghĩa vụ trả nợ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và lãi tính đến ngày 30/11/2024 là 1.538.558.179 đồng cho Bảo hiểm xã hội khu vực M tỉnh K. Đồng thời cũng đã ban hành các quyết định để cho thi hành 125 bản án, quyết định khác nêu trên. Quá trình tổ chức thi hành án, căn cứ kết quả xác minh điều kiện thi hành án, Chấp hành viên đã kê biên, xử lý tài sản là Quyền sử dụng đất XXX của Công ty TNHH S. Tài sản của Công ty TNHH S bán đấu giá thành và đã thu được số tiền 5.5 tỷ đồng (sau khi trừ đi các khoản chi phí thi hành án, các khoản tiền phí, lệ phí, thuế liên quan đến việc chuyển nhượng tài sản).

  • Hỏi: Chấp hành viên thực hiện thanh toán tiền thi hành án như thế nào trong trường hợp nêu trên.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét