Mục 1 THỦ TỤC THI HÀNH ÁN

 Mục 1

THỦ TỤC THI HÀNH ÁN

Câu 28. Theo Luật Thi hành án dân sự năm 2025, cơ quan nào có thẩm quyền tổ chức thi hành án?

Đáp:

Tại khoản 1 Điều 19 Luật THADS năm 2025 quy định: “Cơ quan thi hành án dân sự là cơ quan có chức năng tổ chức thi hành bản án, quyết định theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan.”

Khoản 2 Điều 17 Luật THADS năm 2025 quy định: “Cơ quan thi hành án dân sự bao gồm: cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố; cơ quan thi hành án quân khu và tương đương.”

Tại khoản 1 Điều 26 Luật THADS năm 2025 quy định: “1. Văn phòng thi hành

án dân sự là tổ chức hành nghề của Thừa hành viên để thực hiện việc tổ chức thi

hành án và các công việc khác theo quy định của pháp luật.”

Như vậy, các cơ quan sau đây có thẩm quyền tổ chức thi hành án:

- Cơ quan THADS tỉnh, thành phố;

- Cơ quan thi hành án quân khu và tương đương;

- Văn phòng THADS.

 

Câu 29. Cơ quan THADS tỉnh, thành phố có thẩm quyền thi hành những bản án, quyết định nào?

Đáp:

Tại khoản 1 Điều 32 Luật THADS năm 2025 quy định cơ quan THADS tỉnh,

thành phố có thẩm quyền thi hành các bản án, quyết định sau đây:

- Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực; bản án, quyết định

sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi cơ

quan thi hành án dân sự có trụ sở;

- Bản án, quyết định của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao đối với bản

án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi cơ quan thi hành án dân sự

có trụ sở;

- Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án nhân dân tối cao đối với bản

án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở;

- Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án nhân dân tối cao đối với bản

án, quyết định của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao nơi Tòa án nhân dân cấp

tỉnh đã xét xử sơ thẩm có trụ sở;

- Quyết định của Tòa án nhân dân tối cao chuyển giao cho cơ quan thi hành

án dân sự tỉnh, thành phố;

- Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, Quyết định công nhận kết

quả hòa giải thành của Tòa án nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở;

- Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài

nước ngoài được Tòa án nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở công nhận và cho

thi hành tại Việt Nam;

- Phán quyết trọng tài, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của

Hội đồng trọng tài nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở;

- Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc

gia, Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh; quyết định giải quyết khiếu nại quyết

định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng

giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh do cơ quan thi hành án dân

sự nơi các cơ quan này có trụ sở thi hành;

- Bản án, quyết định do cơ quan thi hành án dân sự nơi khác ủy thác;

- Quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng bồi thường thiệt hại của

Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân nơi cơ quan thi hành án

dân sự có trụ sở;

- Quyết định tuyên bố phá sản của Tòa án nhân dân khu vực nơi cơ quan thi

hành án dân sự có trụ sở;

- Bản án, quyết định khác theo quy định của pháp luật.

 

Câu 30. Cơ quan THADS cấp quân khu và tương đương có thẩm quyền thi hành những bản án, quyết định nào?

Đáp:

Khoản 3 Điều 32 Luật THADS năm 2025 quy định, cơ quan thi hành án cấp

quân khu có thẩm quyền thi hành các bản án, quyết định sau đây:

- Quyết định về hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất

chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định

hình sự của Tòa án quân sự quân khu và tương đương, Tòa án quân sự khu vực trên

địa bàn;

- Quyết định về hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất

chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định

hình sự của Tòa án quân sự trung ương chuyển giao cho cơ quan thi hành án cấp

quân khu;

- Quyết định dân sự của Tòa án nhân dân tối cao chuyển giao cho cơ quan thi

hành án cấp quân khu;

- Quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng bồi thường thiệt hại của

Cơ quan điều tra trong quân đội nhân dân, Viện kiểm sát quân sự, Tòa án quân sự

nơi cơ quan thi hành án cấp quân khu có trụ sở;

- Bản án, quyết định do cơ quan thi hành án dân sự nơi khác ủy thác;

- Bản án, quyết định khác theo quy định của pháp luật.

 

Câu 31. Bản án sơ thẩm số XXX của TAND khu vực T, tỉnh H có nội dung: Ông A phải trả ông B số tiền 150.000.000 đồng. Bản án không có kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Hỏi:

Ông B có thể yêu cầu cơ quan nào tổ chức thi hành án.

Đáp:

- Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 6 Luật THADS năm 2025 thì người được thi hành án có quyền lựa chọn cơ quan THADS hoặc văn phòng THADS để yêu cầu tổ chức thi hành án.

- Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 32 Luật THADS năm 2025 thì cơ quan THADS tỉnh, thành phố có thẩm quyền thi hành các bản án, quyết định sau đây:

+ Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực; bản án, quyết định sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở;

+ Bản án, quyết định của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao đối với bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở;

+ Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án nhân dân tối cao đối với bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở;

+ Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án nhân dân tối cao đối với bản án, quyết định của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao nơi Tòa án nhân dân cấp tỉnh đã xét xử sơ thẩm có trụ sở;

+ Quyết định của Tòa án nhân dân tối cao chuyển giao cho cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố;

+ Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành của Tòa án nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở;

+ Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài được Tòa án nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở công nhận và cho thi hành tại Việt Nam;

+ Phán quyết trọng tài, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Hội đồng trọng tài nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở;

+ Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh; quyết định giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh do cơ quan thi hành án dân sự nơi các cơ quan này có trụ sở thi hành;

+ Bản án, quyết định do cơ quan thi hành án dân sự nơi khác ủy thác;

+ Quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng bồi thường thiệt hại của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở;

+ Quyết định tuyên bố phá sản của Tòa án nhân dân khu vực nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở;

+ Bản án, quyết định khác theo quy định của pháp luật.

- Theo quy định tại khoản 1 Điều 31 Luật THADS năm 2025 thì Văn phòng THADS tổ chức thi hành án theo yêu cầu của đương sự đối với những bản án, quyết định quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật THADS 2025 về thẩm quyền tổ chức thi hành án của cơ quan THADS tỉnh, thành phố nơi văn phòng THADS đặt trụ sở, trừ trường hợp đối với bản án, quyết định do cơ quan thi hành án dân sự nơi khác ủy thác.

Đối chiếu dữ liệu câu hỏi đặt ra, nhận thấy đây là Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực T, tỉnh H ban hành. Do đó, ông B có quyền đề nghị cơ quan THADS tỉnh H hoặc 01 Văn phòng THADS bất kỳ trên địa bàn tỉnh H tổ chức thi hành Bản án XXX nêu trên.

 

Câu 32. Cơ quan đã ra bản án, quyết định phải chuyển giao bản án, quyết định đó cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.

Hỏi: Nhận định trên đúng hay sai? Tại sao?

Đáp: Nhận định nêu trên là Sai, bởi:

Tại khoản 1 Điều 33 Luật THADS năm 2025 đã có những quy định sửa đổi,

bổ sung quy định tại Điều 28 Luật THADS năm 2008 về thời hạn chuyển giao, gửi

bản án, quyết định cho cơ quan THADS của các cơ quan đã ra bản án, quyết định,

cụ thể:

“1. Việc chuyển giao, gửi bản án, quyết định cho cơ quan thi hành án dân sự

thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng. Trường hợp pháp luật không có

quy định thì cơ quan ra bản án, quyết định phải chuyển giao bản án, quyết định cho

cơ quan thi hành án dân sự trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án, quyết định

hoặc phần bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.”

Như vậy, thay vì quy định cụ thể các trường hợp chuyển giao bản án, quyết định của Toà án, Luật THADS năm 2025 đã dẫn chiếu việc chuyển giao các bản án, quyết định do Toà án ban hành được thực hiện theo pháp luật về tố tụng.

Ví dụ: Theo quy định tại khoản 2 Điều 56 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024, đối với Quyết định quyết định áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng, trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày công bố quyết định áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải gửi quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng bồi thường thiệt hại cho cơ quan thi hành án dân sự.

Bên cạnh đó, để giải quyết vướng mắc do một số bản án, quyết định phải chuyển giao cho cơ quan THADS nhưng không quy định thời hạn thì thời hạn chuyển giao được thực hiện theo quy định của Luật THADS là 15 ngày kể từ ngày bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.

 

Câu 33. Luật THADS năm 2025 đã có những quy định mới nào về việc ra quyết định thi hành án so với Luật THADS năm 2008?

Đáp:

Việc ra quyết định thi hành án được quy định tại Điều 33, Điều 34 Luật

THADS năm 2025 với một số điểm mới so với Luật THADS năm 2008, cụ thể:

- Bổ sung trường hợp chủ động ra quyết định thi hành án đối với “Khoản tiền

bồi thường cho tổ chức, cá nhân mà cơ quan thi hành án dân sự đã thu và được tuyên

trong bản án, quyết định”.

- Bổ sung trường hợp chủ động ra quyết định thi hành án đối với bản án, quyết

định khác theo quy định của pháp luật. Đây là quy định “mở” để dự phòng các trường

hợp pháp luật quy định, ví dụ trường hợp theo Nghị quyết số 205/2025/QH15 của

Quốc hội về việc thí điểm Viện kiểm sát nhân dân khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền dân sự của các chủ thể là nhóm dễ bị tổn thương hoặc bảo vệ lợi ích công.

- Bổ sung quy định về “trường hợp pháp luật có quy định điều kiện để bản án,

quyết định được thi hành thì thời hạn ra quyết định thi hành án là 05 ngày làm việc

kể từ ngày nhận được thông tin về điều kiện đó”. Đây là quy định nhằm giải quyết

vướng mắc trong việc thi hành phán quyết trọng tài mà cần xác định phán quyết đó

có đang bị yêu cầu huỷ phán quyết hay không.

- Bổ sung quy định “Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia có quyền yêu cầu thi hành

án theo quy định của Luật Cạnh tranh”.

- Bổ sung quy định “Không tính thời hiệu yêu cầu thi hành án trong trường

hợp đương sự yêu cầu thi hành án trở lại sau khi cơ quan thi hành án dân sự đã gửi

lại yêu cầu thi hành án theo quy định tại khoản 4 Điều 38 của Luật này”.

- Bổ sung quy định về việc cơ quan THADS có quyền từ chối yêu cầu thi hành

án trong trường hợp nội dung yêu cầu thi hành án đã có quyết định thi hành án, trừ

trường hợp pháp luật có quy định khác.

 

Câu 34. Phán quyết trọng tài số 03/2026/PQ-TT ngày 17/7/2026 của Hội đồng trọng tài thuộc Trung tâm trọng tài QVN tại tỉnh H có nội dung buộc Công ty A có nghĩa vụ thanh toán tiền thuê mặt bằng cho Công ty B với tổng cộng số tiền 576.464.143 đồng ngay khi phán quyết có hiệu lực. Trường hợp chậm thanh toán, Công ty A phải tiếp tục thanh toán tiền lãi do chậm trả theo quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015, với mức lãi suất 10%/năm, tương ứng với số tiền chậm trả và thời gian chậm trả. Ngày 30/7/2025, công ty B làm đơn đề nghị cơ quan THADS tỉnh H tổ chức thi hành nội dung phán quyết trọng tài.

Hỏi: Trường hợp này, cơ quan THADS tỉnh H có ra quyết định thi hành án

theo yêu cầu của Công ty B hay không? Căn cứ pháp lý?

Đáp:

- Về thẩm quyền tổ chức thi hành án:

+ Theo quy định tại khoản 1 Điều 8 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 thì:

“1. Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành phán quyết trọng tài là Cơ

quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi Hội đồng trọng

tài ra phán quyết.”

+ Theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 32 Luật THADS năm 2025 thì cơ

quan THADS tỉnh, thành phố có thẩm quyền thi hành: “h) Phán quyết trọng tài, quyết

định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Hội đồng trọng tài nơi cơ quan thi

hành án dân sự có trụ sở;”.

Trường hợp này, Hội đồng trọng tài ra phán quyết thuộc Trung tâm trọng tài

AVN, chi nhánh tỉnh H, do đó, cơ quan THADS tỉnh H có thẩm quyền thi hành Phán

quyết trọng tài nêu trên.

- Về điều kiện thụ lý, ra quyết định thi hành án:

+ Theo quy định tại khoản 3 Điều 34 Luật THADS năm 2025 có nội dung:

“Khi tiếp nhận yêu cầu thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự phải kiểm tra nội

dung yêu cầu, các tài liệu kèm theo và thông báo cho người yêu cầu.

Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án trong thời

hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu thi hành án và bản án, quyết

định, trừ trường hợp từ chối yêu cầu thi hành án theo quy định tại khoản 4 Điều này.

Trường hợp pháp luật có quy định điều kiện để bản án, quyết định được thi hành

thì thời hạn ra quyết định thi hành án là 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được

thông tin về điều kiện đó.”

+ Theo quy định tại Điều 66 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 về quyền

yêu cầu thi hành phán quyết trọng tài có nội dung: “1. Hết thời hạn thi hành phán

quyết trọng tài mà bên phải thi hành phán quyết không tự nguyện thi hành và cũng

không yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài theo quy định tại Điều 69 của Luật này, bên

được thi hành phán quyết trọng tài có quyền làm đơn yêu cầu Cơ quan thi hành án

dân sự có thẩm quyền thi hành phán quyết trọng tài.

2. Đối với phán quyết của Trọng tài vụ việc, bên được thi hành có quyền làm

đơn yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành phán quyết trọng

tài sau khi phán quyết được đăng ký theo quy định tại Điều 62 của Luật này.”

Có thể thấy, để yêu cầu cơ quan THADS tổ chức thi hành phán quyết trọng tài

cần đáp ứng 02 yêu cầu: (1) Hết thời hạn thi hành phán quyết nhưng bên phải thi

hành án không tự nguyện thi hành và cũng không có yêu cầu huỷ phán quyết trong

thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được phán quyết; (2) Phán quyết trọng tài đã được

đăng ký tại Tòa án nơi Hội đồng trọng tài đã ra phán quyết trước khi yêu cầu Cơ

quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành.

Như vậy, trong trường hợp nêu trên, theo quy định của Luật THADS năm 2025

thì cơ quan THADS sẽ ra quyết định thi hành án trong thời hạn 05 ngày làm việc kể

từ ngày nhận được thông tin về điều kiện thi hành phán quyết trọng tài nêu trên.


Câu 35. Bản án XXX ngày 22/2/2024 của Toà án nhân dân tỉnh K có nội dung buộc Ông A phải trả cho Ông B số tiền 1.500.000.000 đồng. Căn cứ đơn đề nghị thi hành án của ông B, cơ quan THADS tỉnh K đã thụ lý tổ chức thi hành vụ việc. Quá trình tổ chức thi hành án, kết quả xác minh cho thấy ông A không có tài sản để thi hành án, chỉ có thu nhập nhưng thu nhập chỉ đảm bảo cuộc sống tối thiểu cho Ông A và con do Ông A nuôi dưỡng. Ngày 22/6/2024, cơ quan THADS tỉnh K ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án. Chấp hành viên đã thực hiện xác minh định kỳ theo quy định của Luật THADS 2008 và cũng không nhận được thông tin về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án. Do đó, ngày 22/7/2026, cơ quan THADS đã gửi lại yêu cầu thi hành án của ông B.

Đến ngày 15/2/2030, Ông B có đơn đề nghị cơ quan THADS tỉnh K tổ chức

thi hành án và cung cấp điều kiện thi hành án của ông A (ông A có quyền sử dụng

đất). Tuy nhiên, đơn của ông bị cơ quan THADS từ chối thụ lý vì cho rằng đã hết

thời hiệu yêu cầu thi hành án (quá 05 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực).

Hỏi: Trường hợp này, cơ quan THADS từ chối thụ lý đơn yêu cầu thi hành án

của ông B có đúng quy định pháp luật hay không?

Đáp:

Cơ quan THADS tỉnh K từ chối yêu cầu thi hành án của ông B là chưa phù

hợp với quy định pháp luật, bởi:

Khoản 4 Điều 38 Luật THADS năm 2025 quy định trong trường hợp cơ quan

THADS gửi lại yêu cầu thi hành án thì “Đương sự có quyền yêu cầu cơ quan thi hành

án dân sự thi hành án trở lại theo quy định tại Điều 34 của Luật này khi người phải

thi hành án có điều kiện thi hành hoặc có quyền yêu cầu văn phòng thi hành án dân

sự thi hành án theo quy định tại Điều 31 của Luật này.”.

Mặt khác, tại khoản 2 Điều 34 quy định: “Không tính thời hiệu yêu cầu thi

hành án trong trường hợp đương sự yêu cầu thi hành án trở lại sau khi cơ quan thi

hành án dân sự đã gửi lại yêu cầu thi hành án theo quy định tại khoản 4 Điều 38 của

Luật này.”

Như vậy, trong trường hợp nêu trên, khi phát hiện ông A có điều kiện thi hành

án trở lại, ông B có quyền yêu cầu cơ quan THADS tỉnh K tổ chức thi hành mà không

tính thời hiệu yêu cầu thi hành án.

 

Câu 36. Việc thông báo thi hành án theo Luật THADS năm 2025 có những điểm mới nào so với Luật THADS năm 2008?

Đáp:

Một số nội dung mới về thông báo thi hành án của Luật THADS năm 2025 so

với Luật THADS năm 2008 như sau:

- Thứ nhất, tại khoản 1 Điều 35 Luật THADS năm 2025 đã quy định rõ các

loại văn bản cần thông báo bao gồm: quyết định về thi hành án, thông báo, giấy triệu

tập về thi hành án có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của đương sự, cơ quan, tổ chức,

cá nhân phải được thông báo cho họ để thực hiện quyền, nghĩa vụ theo nội dung của văn bản đó.

 

- Thứ hai, tại khoản 3 Điều 35 Luật THADS đã quy định bổ sung các hình

thức thông báo, theo đó, việc thông báo được thực hiện bằng một trong các hình thức:

+ Thông báo trên môi trường số hoặc qua văn phòng thi hành án dân sự hoặc

doanh nghiệp bưu chính hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác hoặc cơ quan thi hành

án dân sự giao trực tiếp cho người được thông báo;

+ Niêm yết công khai;

+ Thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng.

- Thứ ba, Luật THADS năm 2025 đã bổ sung quy định trường hợp đương sự,

người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đang ở nước ngoài mà không xác định được

địa chỉ, nơi cư trú của họ ở nước ngoài thì việc thông báo được thực hiện trên môi

trường số.

- Bổ sung quy định về các hình thức thông báo trong trường hợp đương sự,

người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ở Việt Nam mà xác định được địa chỉ

của họ ở nước ngoài.

 

Câu 37. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận việc thi hành án hay không?

Đáp:

Theo quy định tại khoản 2 Điều 36 Luật THADS năm 2025 thì: “2. Đương sự,

người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận về việc thi hành án và

phải chịu trách nhiệm về thỏa thuận đó. Khi thỏa thuận về việc thi hành án, các

đương sự phải thỏa thuận về phí thi hành án và các chi phí phát sinh (nếu có).”

Như vậy, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận về việc

thi hành án. Đây là điểm mới của Luật THADS năm 2025 so với Luật THADS năm

2008.

 

Câu 38. Việc xác minh điều kiện thi hành án theo Luật THADS năm 2025 có những điểm mới nào so với Luật THADS năm 2008?

Đáp:

Việc xác minh điều kiện thi hành án được quy định tại Luật THADS năm 2025

có một số điểm mới so với Luật THADS năm 2008 như sau:

- Giảm thời hạn xác minh lần đầu từ 10 ngày xuống 09 ngày (khoản 1 Điều

37).

- Bổ sung quy định việc xác minh điều kiện thi hành án được thực hiện trên

môi trường số, trực tiếp hoặc bằng văn bản theo quy định của pháp luật. Trường hợp


xác minh trên môi trường số, Chấp hành viên có quyền khai thác thông tin từ các cơ

sở dữ liệu về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án khác của người phải thi hành án

(khoản 3 Điều 37)

- Quy định rõ cơ quan thi hành án dân sự có thể xác minh ngoài địa bàn tỉnh,

thành phố nơi đặt trụ sở hoặc ủy quyền cho cơ quan thi hành án dân sự khác nơi

người phải thi hành án có tài sản, cư trú, làm việc hoặc có trụ sở để xác minh điều

kiện thi hành án (khoản 5 Điều 37)

- Bổ sung quy định cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên yêu cầu cung

cấp thông tin theo quy định của pháp luật thì không phải chịu chi phí.

- Bổ sung quy định Chấp hành viên có quyền tự mình thực hiện hoặc yêu cầu

cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan thực hiện việc mở khóa, mở gói; đo đạc tài

sản hoặc các biện pháp cần thiết khác để thực hiện việc xác minh.

Trường hợp đương sự hoặc những người khác có hành vi cản trở, chống đối

việc xác minh, xem xét, kiểm tra hiện trạng tài sản thì Chấp hành viên đề nghị Ủy

ban nhân dân cấp xã, cơ quan, tổ chức có liên quan yêu cầu người đó chấm dứt hành

vi cản trở, chống đối hoặc tạm thời rời khỏi nơi có tài sản để thực hiện việc xác minh

(điểm c khoản 4 Điều 37).


Câu 39. Luật THADS năm 2025 đã quy định những căn cứ nào để Thủ trưởng cơ quan THADS ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án?

Đáp:

Tại khoản 1 Điều 44a Luật THADS năm 2008 quy định 03 căn cứ để xác định

việc chưa có điều kiện thi hành án. Tuy nhiên, tại khoản 1 Điều 38 Luật THADS

năm 2025 đã sửa đổi, bổ sung và quy định 08 căn cứ xác định việc chưa có điều kiện

thi hành án, cụ thể:

* Các căn cứ được giữ nguyên so với Luật THADS năm 2008:

- Người phải thi hành án không có thu nhập hoặc có thu nhập nhưng chỉ bảo

đảm cuộc sống tối thiểu cho người phải thi hành án, người mà họ có trách nhiệm

nuôi dưỡng và không có tài sản để thi hành án hoặc có tài sản nhưng giá trị tài sản

chỉ đủ để thanh toán chi phí cưỡng chế thi hành án hoặc tài sản theo quy định của

pháp luật không được kê biên, xử lý để thi hành án (điểm a khoản 1 Điều 38).

* Các căn cứ sửa đổi, bổ sung so với Luật THADS năm 2008:

- Thi hành nghĩa vụ về trả vật đặc định nhưng vật phải trả không còn hoặc bị

hư hỏng đến mức không sử dụng được mà đương sự không có thỏa thuận khác; phải

trả giấy tờ nhưng giấy tờ đó không thể thu hồi và cũng không thể cấp lại được hoặc

đã thực hiện chuyển giao cho cơ quan ban hành giấy tờ theo quy định tại khoản 2

Điều 59 của Luật này (điểm d khoản 1 Điều 38)

 

46

 

+ Đã bổ sung cụm từ “mà đương sự không có thỏa thuận khác” vào căn cứ

trong trường hợp thi hành nghĩa vụ về trả vật đặc định nhưng vật phải trả không còn

hoặc bị hư hỏng đến mức không sử dụng được thì xác định việc thi hành án chưa có

điều kiện.

+ Đã bổ sung trường hợp thi hành nghĩa vụ trả giấy tờ nhưng giấy tờ đó đã

“thực hiện chuyển giao cho cơ quan ban hành giấy tờ” đối với giấy tờ liên quan đến

tài sản, nhân thân của đương sự thì hết thời hạn 3 tháng kể từ ngày được thông báo

mà đương sự không đến nhận quy định tại khoản 2 Điều 59 Luật THADS năm 2025.

* Các căn cứ bổ sung so với Luật THADS năm 2008:

Trên cơ sở những khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn, Luật THADS năm 2025

đã bổ sung 05 căn cứ xác định việc chưa có điều kiện thi hành án, cụ thể:

- Trường hợp bản án, quyết định tuyên xử lý tài sản nhưng tại thời điểm thi

hành án, kết quả xác minh cho thấy tài sản đó không còn hoặc không xác định được

nơi có động sản hoặc tài sản đó đã bị thu hồi giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản,

quyền sử dụng đất, trừ trường hợp người phải thi hành án có thu nhập, tài sản khác

để thi hành án (điểm b khoản 1 Điều 38).

- Trường hợp thi hành nghĩa vụ gắn liền với nhân thân của người phải thi hành

án hoặc pháp luật quy định nghĩa vụ không được chuyển giao nhưng người đó bị mất

năng lực hành vi dân sự theo quyết định của Tòa án (điểm đ khoản 1 Điều 38).

- Trường hợp tài sản của người phải thi hành án đang cầm cố, thế chấp mà giá

trị của tài sản đó nhỏ hơn nghĩa vụ được bảo đảm và chi phí cưỡng chế thi hành án

hoặc bán tài sản quy định tại điểm d khoản 3 Điều 78 của Luật này nhưng sau khi

giảm giá mà giá trị tài sản bằng hoặc thấp hơn chi phí thi hành án và các nghĩa vụ

được bảo đảm, trừ trường hợp người phải thi hành án có thu nhập, tài sản khác để thi

hành án (điểm e khoản 1 Điều 38).

- Trường hợp bán tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 83 của Luật này mà

giá trị tài sản đã giảm bằng hoặc thấp hơn chi phí thi hành án và người được thi hành

án không nhận để trừ vào tiền được thi hành án, trừ trường hợp người phải thi hành

án có thu nhập, tài sản khác để thi hành án (điểm g khoản 1 Điều 38).

- Tài sản của người phải thi hành án đang bị thu giữ, xử lý để bảo đảm cho

khoản nợ xấu theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng mà người phải thi hành

án không có thu nhập, tài sản khác để thi hành án (điểm h khoản 1 Điều 38).

 

Câu 40. Bản án sơ thẩm số XXX ngày 15/8/2026 của Toà án nhân dân tỉnh H có nội dung buộc Ông A phải trả cho Ông B số tiền 1.500.000.000 đồng và lãi suất chậm thi hành án. Quá trình tổ chức thi hành án, Chấp hành viên xác minh ông A có tài sản duy nhất là Quyền sử dụng đất YYY hiện đang thế chấp cho Ngân hàng S để bảo đảm cho khoản vay 1.350.000.000 đồng, giá trị tài sản khoảng 1.600.000.000 đồng và thu nhập tiền lương hàng tháng là 8.000.000 đồng. Căn cứ kết quả xác minh, Chấp hành viên bản hành quyết định kê biên quyền sử dụng đất của ông A và đưa tài sản ra bán đấu giá. Giá khởi điểm là 1.600.000.000 đồng. Tuy nhiên, tài sản bán đấu giá nhiều lần không thành, sau khi giảm giá tài sản còn 1.300.000.000 đồng, Chấp hành viên nhận thấy, giá trị của tài sản sau giảm giá thấp hơn chi phí thi hành án và nghĩa vụ được bảo đảm cho ngân hàng nên đã trình Thủ trưởng cơ quan THADS tỉnh H ban hành Quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án.

Hỏi: Việc Thủ trưởng cơ quan THADS tỉnh H ban hành Quyết định về việc

chưa có điều kiện thi hành án có phù hợp với quy định pháp luật hay không? Tại sao?

Đáp:

Việc thủ trưởng cơ quan THADS tỉnh H ban hành Quyết định về việc chưa có

điều kiện thi hành án trong trường hợp nêu trên là chưa phù hợp với quy định pháp

luật, bởi:

Theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 38 Luật THADS năm 2025 thì thủ

trưởng cơ quan THADS ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án khi có

căn cứ: “e) Trường hợp tài sản của người phải thi hành án đang cầm cố, thế chấp

mà giá trị của tài sản đó nhỏ hơn nghĩa vụ được bảo đảm và chi phí cưỡng chế thi

hành án hoặc bán tài sản quy định tại điểm d khoản 3 Điều 78 của Luật này nhưng

sau khi giảm giá mà giá trị tài sản bằng hoặc thấp hơn chi phí thi hành án và các

nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp người phải thi hành án có thu nhập, tài sản

khác để thi hành án.”

Như vậy, trường hợp nêu trên, bên cạnh tài sản là Quyền sử dụng đất, ông A

còn có thu nhập hàng tháng là 8.000.000 đồng. Do đó, trường hợp này, cơ quan

THADS không có căn cứ để ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án mà

cần áp dụng quy định về cưỡng chế trừ vào thu nhập quy định tại Điều 76 Luật

THADS năm 2025 để thi hành án.

 

Câu 41. Bản án sơ thẩm số XXX của Toà án nhân dân tỉnh H có nội dung: buộc ông Nguyễn Văn A phải xin lỗi, cải chính công khai bà Trần Thị B bằng hình thức tự mình công khai xin lỗi công khai bà B trên phương tiện thông tin đại chúng do đăng tải thông tin sai sự thật trong thời hạn 07 ngày liên tục kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Căn cứ yêu cầu thi hành án của bà B, cơ quan THADS ra quyết định thi hành án. Quá trình tổ chức thi hành án, Chấp hành viên nhận thấy ông Nguyễn Văn A luôn có biểu hiện chống đối và người thân trong gia đình của ông A cung cấp thông tin ông A thời gian gần đây bị tâm thần, không thể điều khiển hành vi dân sự của mình do đó không đủ điều kiện thi hành án. Theo đề nghị của Chấp hành viên, Thủ trưởng cơ quan THADS tỉnh H ban hành Quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án.


Hỏi: Việc Thủ trưởng cơ quan THADS tỉnh H ban hành Quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án có phù hợp với quy định pháp luật hay không? Tại sao?

Đáp:

Việc thủ trưởng cơ quan THADS tỉnh H ban hành Quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án trong trường hợp nêu trên là chưa phù hợp với quy định pháp luật, bởi:

Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 38 Luật THADS năm 2025 thì Thủ trưởng cơ quan THADS ra quyết định chưa có điều kiện thi hành án trong trường

hợp: “đ) Trường hợp thi hành nghĩa vụ gắn liền với nhân thân của người phải thi hành án hoặc pháp luật quy định nghĩa vụ không được chuyển giao nhưng người đó

bị mất năng lực hành vi dân sự theo quyết định của Tòa án”

Trong trường hợp nêu trên, nghĩa vụ công khai xin lỗi công khai bà B trên

phương tiện thông tin đại chúng của ông A là nghĩa vụ gắn liền với nhân thân, phải

do chính ông A thực hiện và không thể uỷ quyền hay chuyển giao nghĩa vụ cho người

khác. Tuy nhiên, việc Chấp hành viên tự mình nhận thấy ông A có biểu hiện chống

đối thi hành án và thông tin do người thân trong gia đình của ông A cung cấp thông

tin ông A thời gian gần đây bị tâm thần, không thể điều khiển hành vi dân sự của

mình mà chưa có quyết định của Tòa án về việc ông A mất hành vi năng lực dân sự

để làm căn cứ ra quyết định chưa có điều kiện thi hành án là chưa phù hợp.

 

Câu 42. Trường hợp người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án thì Chấp hành viên thực hiện xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án như thế nào?

Đáp:

Theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 38 Luật THADS năm 2025 thì:

- Thông tin về tên, địa chỉ, nghĩa vụ thi hành của người phải thi hành án chưa

có điều kiện thi hành được đăng tải trên cổng thông tin điện tử về thi hành án dân sự

và gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xác minh để niêm yết.

- Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được văn bản của đương sự hoặc cơ

quan, tổ chức, cá nhân khác cung cấp thông tin mới về điều kiện thi hành án của

người phải thi hành án thì Chấp hành viên phải tiến hành xác minh. Khi người phải

thi hành án có điều kiện thi hành thì cơ quan thi hành án ra quyết định tiếp tục thi

hành án, trừ trường hợp đã gửi lại yêu cầu thi hành án theo quy định tại khoản 4 Điều

này.

- Trường hợp người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành thì ít nhất 06

tháng một lần, Chấp hành viên phải xác minh điều kiện thi hành án; đối với người

phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án là người đang chấp hành hình phạt tù

 

49

 

mà thời gian chấp hành hình phạt tù còn lại từ 02 năm trở lên hoặc không xác định

được địa chỉ, nơi cư trú mới của người phải thi hành án thì ít nhất 01 năm một lần,

Chấp hành viên phải xác minh điều kiện thi hành án.

 

Câu 43. Trường hợp thi hành án theo yêu cầu mà hết thời hạn 02 năm kể từ ngày có quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án và đã xác minh định kỳ mà không có thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì cơ quan THADS sẽ thực hiện thủ tục gì?

Đáp:

Luật THADS năm 2025 đã bổ sung cơ chế “gửi lại yêu cầu thi hành án”.

Đây là một trong những điểm mới nổi bật của Luật THADS (sửa đổi). Theo đó, tại

khoản 4 Điều 38 đã bổ sung quy định hết thời hạn 02 năm kể từ ngày có quyết định

về việc chưa có điều kiện thi hành án và đã xác minh định kỳ mà không có thông tin

mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì cơ quan thi hành án dân

sự gửi lại yêu cầu thi hành án. Đương sự có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân

sự thi hành án trở lại theo quy định tại Điều 34 khi người phải thi hành án có điều

kiện thi hành hoặc có quyền yêu cầu văn phòng thi hành án dân sự thi hành án theo

quy định tại Điều 31 Luật THADS.

 

Câu 44. Luật THADS năm 2025 đã có những nội dung sửa đổi, bổ sung nào đối với việc xác định tài sản và xử lý tranh chấp tài sản của người phải thi hành án so với Luật THADS năm 2008?

Đáp:

Về xác định tài sản và xử lý tranh chấp tài sản của người phải thi hành án đã

được Luật THADS năm 2025 quy định với những nội dung sửa đổi, bổ sung so với

Luật THADS năm 2008 như sau:

- Thứ nhất, Theo quy định của Luật THADS năm 2008, người phải thi hành

án và những người sở hữu chung có 30 ngày để thỏa thuận phân chia hoặc yêu cầu

Tòa án giải quyết; nếu họ không thực hiện thì người được thi hành án có 15 ngày tiếp

theo để yêu cầu Tòa án giải quyết. Sau khi hết thời hạn mà người được thi hành án

không yêu cầu thì Chấp hành viên mới thực hiện yêu cầu Tòa án giải quyết. Như vậy,

để thực hiện yêu cầu Tòa án phân chia thì Chấp hành viên phải chờ hết 45 ngày kể

từ khi thông báo cho đương sự và những người liên quan. Do đó, nhằm rút ngắn thời

gian, tại khoản 1 Điều 39 Luật THADS năm 2025 đã quy định rút ngắn thời hạn

đương sự yêu cầu xác định, phân chia tài sản của người phải thi hành án trong khối

tài sản chung để thi hành án từ 45 ngày xuống còn 30 ngày.

 

50

 

- Thứ hai, tại điểm c khoản 5 Điều 11 Luật THADS đã bổ sung quy định về

nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân trong trường hợp đủ các điều kiện theo

quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự thì phải giải quyết theo thủ tục rút gọn đối với

yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, đương sự về việc xác định quyền sở hữu,

quyền sử dụng tài sản, phân chia tài sản hoặc giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu,

quyền sử dụng tài sản, hủy giấy tờ, giao dịch phát sinh trong quá trình thi hành.

- Thứ ba, bổ sung quy định trường hợp Chấp hành viên yêu cầu Tòa án xác

định, phân chia, giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu, sử dụng theo quy định nếu

Chấp hành viên không thể thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố

tụng dân sự thì có quyền yêu cầu Tòa án thu thập và không phải chịu án phí, lệ phí

Tòa án.

 

Câu 45. Trường hợp bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật tuyên kê biên, xử lý, công nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản mà tài sản đó có tranh chấp thì Chấp hành viên thông báo cho đương sự, người có tranh chấp về quyền khởi kiện tại Tòa án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết.

Hỏi: Khẳng định nêu trên có phù hợp với quy định pháp luật hay không?

Đáp:

Khẳng định nêu trên là chưa phù hợp với quy định pháp luật, bởi: tại khoản 3

Điều 39 Luật THADS năm 2025 quy định: “Trường hợp tài sản để thi hành án có

người khác tranh chấp thì Chấp hành viên thông báo cho đương sự, người có tranh

chấp về quyền khởi kiện tại Tòa án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết,

trừ trường hợp bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật tuyên kê biên, xử lý, công

nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản đó....”. Như vậy, đối với trường hợp bản

án, quyết định có hiệu lực pháp luật đã tuyên kê biên, xử lý, công nhận quyền sở hữu,

quyền sử dụng tài sản thì Chấp hành viên vẫn tiếp tục xử lý tài sản mà không phải

thông báo cho đương sự, người có tranh chấp về quyền khởi kiện tại Tòa án hoặc đề

nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết.

 

Câu 46. Luật THADS năm 2025 có những quy định sửa đổi, bổ sung nào về

việc chuyển giao quyền, nghĩa vụ thi hành án so với Luật THADS năm 2008?

Đáp:

Tại Điều 41 Luật THADS năm 2025 quy định về việc chuyển giao quyền,

nghĩa vụ thi hành án. Theo đó, cơ bản giữ nguyên quy định tại Điều 54 Luật THADS

năm 2008. Bên cạnh đó, có một số nội dung sửa đổi, bổ sung cụ thể như sau:

- Bổ sung trường hợp sắp xếp lại thì tổ chức sau sắp xếp tiếp tục thực hiện

quyền, nghĩa vụ thi hành án; trường hợp chưa xác định được tổ chức tiếp nhận quyền,

 

51

 

nghĩa vụ thi hành án thì cơ quan có thẩm quyền xác định tại điểm g khoản 1 Điều 41

Luật THADS năm 2025.

- Bổ sung trường hợp chuyển giao “Theo quy định của pháp luật khác” để tạo

cơ sở pháp lý thực hiện các Luật khác như Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 có

quy định về việc bán nợ xấu tại điểm h khoản 1 Điều 41 Luật THADS năm 2025.

- Tại khoản 2 Điều 41 đã quy định bổ sung việc thi hành án trong trường hợp

người phải thi hành án là cá nhân chết thì quyền, nghĩa vụ thi hành án được chuyển

giao theo quy định của pháp luật thừa kế và hướng dẫn của Nghị định. Bên cạnh đó,

bổ sung quy định:

+ Nếu thi hành nghĩa vụ về trả tài sản mà người phải thi hành án chết thì cơ

quan thi hành án dân sự tiếp tục thi hành án theo quy định của Luật THADS năm 2025.

+ Nếu thi hành nghĩa vụ về trả tiền mà người phải thi hành án chết nhưng có

tài sản để thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản đó để thi hành án

theo quy định của Luật THADS năm 2025, trừ trường hợp có bản án, quyết định của

Tòa án về việc phân chia di sản thừa kế hoặc những người thừa kế thỏa thuận về việc

thực hiện nghĩa vụ của người phải thi hành án.

- Bổ sung quy định làm rõ hơn trong trường hợp đương sự thỏa thuận về

việc chuyển giao quyền, nghĩa vụ thi hành án để phù hợp với Điều 365 Bộ luật

dân sự, cụ thể:

+ Người được thi hành án chuyển giao quyền được thi hành án của mình thì

không cần có sự đồng ý của người phải thi hành án, trừ trường hợp có thỏa thuận

hoặc pháp luật có quy định khác;

+ Người phải thi hành án chuyển giao nghĩa vụ thi hành án của mình thì phải

được sự đồng ý của người được thi hành án;

+ Người chuyển giao quyền, nghĩa vụ thi hành án phải thông báo bằng văn

bản cho cơ quan thi hành án dân sự và các đương sự khác về việc chuyển giao quyền,

nghĩa vụ thi hành án.

- Sửa đổi quy định về thủ tục khi chuyển giao: không quy định cơ quan

THADS ra quyết định thu hồi quyết định thi hành án như Luật THADS năm 2008

mà “ra quyết định chuyển giao quyền, nghĩa vụ”. Người được chuyển giao quyền,

nghĩa vụ thi hành án có quyền, nghĩa vụ của đương sự tương ứng với phần quyền,

nghĩa vụ được chuyển giao. Chấp hành viên căn cứ quyết định thi hành án và quyết

định chuyển giao quyền, nghĩa vụ thi hành án để tổ chức thi hành án.

 

Câu 47. Luật THADS năm 2025 có những quy định sửa đổi, bổ sung nào về các căn cứ để cơ quan THADS ra quyết định hoãn thi hành án so với Luật THADS năm 2008?

 

Đáp:

Tại Điều 46 Luật THADS năm 2025 đã quy định về việc hoãn thi hành án,

theo đó, đã sửa đổi, bổ sung so với Luật THADS năm 2008 một số điểm như sau:

- Thứ nhất, giới hạn rõ khoản nghĩa vụ được hoãn thi hành án khi người phải

thi hành án bị ốm nặng.

Nếu như Luật THADS năm 2008 quy định trường hợp người phải thi hành án

án bị ốm nặng, có xác nhận của cơ sở y tế từ cấp huyện trở lên thì hoãn thi hành án

đối với vụ việc đó thì Luật THADS năm 2025 đã giới hạn lại khoản nghĩa vụ được

hoãn chỉ bao gồm các “Nghĩa vụ gắn liền với nhân thân của người phải thi hành án

hoặc pháp luật quy định nghĩa vụ không được chuyển giao” mà người đó mắc bệnh

hiểm nghèo, có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản trở lên thì mới

hoãn thi hành án (điểm a khoản 1 Điều 46).

- Thứ hai, giới hạn phạm vi hoãn thi hành án trong trường hợp chưa xác định

được địa chỉ của người phải thi hành án

Luật THADS năm 2025 đã sửa đổi quy định về hoãn thi hành án trong trường

hợp chưa xác định được địa chỉ của người phải thi hành án theo hướng thu hẹp phạm

vi nghĩa vụ áp dụng. Nếu như Luật năm 2008 quy định căn cứ hoãn thi hành án trong

trường hợp “chưa xác định được địa chỉ của người phải thi hành án hoặc vì lý do

chính đáng khác mà người phải thi hành án không thể tự mình thực hiện nghĩa vụ”

có thể được hiểu là áp dụng đối với toàn bộ nghĩa vụ trong vụ việc (điểm b khoản 1

Điều 48), thì Luật năm 2025 đã làm rõ: chỉ hoãn thi hành án đối với các “nghĩa vụ

gắn liền với nhân thân của người phải thi hành án hoặc nghĩa vụ mà pháp luật quy

định không được chuyển giao” trong trường hợp chưa xác định được địa chỉ của

người phải thi hành án (điểm b khoản 1 Điều 46).

- Thứ ba, bổ sung và làm rõ căn cứ hoãn thi hành án trên cơ sở ý chí của

đương sự

Luật THADS năm 2025 đã sửa đổi, làm rõ căn cứ hoãn thi hành án liên quan

đến ý chí của đương sự, đối với căn cứ “đương sự đồng ý hoãn thi hành án” thì quy

định rõ hơn việc thỏa thuận phải “bằng văn bản”, bên cạnh đó, bổ sung trường hợp

về căn cứ hoãn thi hành án là “người được thi hành án có văn bản đề nghị hoãn thi

hành án” (điểm c khoản 1 Điều 46). Đồng thời, Luật cũng bổ sung điều kiện quan

trọng là việc thỏa thuận hoặc đề nghị hoãn này không được làm ảnh hưởng đến lợi

ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba.

- Thứ tư, hoàn thiện căn cứ hoãn thi hành án liên quan đến tài sản đang được

Tòa án thụ lý giải quyết

Luật THADS năm 2025 đã sửa đổi căn cứ hoãn thi hành án trong trường hợp

tài sản để thi hành án đang được Tòa án thụ lý giải quyết theo hướng thu hẹp phạm

vi hoãn và bổ sung các trường hợp loại trừ. Theo đó, nếu như Luật năm 2008 quy

định tương đối “mở” rằng khi tài sản để thi hành án đã được Tòa án thụ lý theo quy

định tại Điều 74 và Điều 75 thì hoãn thi hành án, thì Luật năm 2025 đã làm rõ: không

hoãn thi hành án trong các trường hợp (i) tài sản đó đã được bản án, quyết định có

hiệu lực pháp luật tuyên kê biên, xử lý, công nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng;

hoặc (ii) người phải thi hành án có tài sản, thu nhập khác bảo đảm thi hành nghĩa vụ

(điểm d khoản 1 Điều 46).

- Thứ năm, hoàn thiện căn cứ hoãn thi hành án trong trường hợp đang thực

hiện các thủ tục tố tụng và tương trợ tư pháp có liên quan

Luật Thi hành án dân sự năm 2025 quy định bên cạnh trường hợp “việc thi

hành án đang trong thời hạn cơ quan có thẩm quyền giải thích bản án, quyết định và

trả lời kiến nghị” như quy định của Luật năm 2008, Luật năm 2025 đã mở rộng và

làm rõ hơn các căn cứ hoãn, bao gồm: (i) đang trong thời hạn cơ quan có thẩm quyền

sửa chữa, bổ sung, giải thích bản án, quyết định hoặc đang thực hiện tương trợ tư

pháp về dân sự theo quy định của pháp luật (điểm g khoản 1 Điều 46); và (ii) đang

trong thời hạn cơ quan có thẩm quyền trả lời kiến nghị của cơ quan thi hành án dân

sự về việc xem xét lại bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm (điểm

h khoản 1 Điều 46).

- Thứ sáu, bổ sung các căn cứ hoãn thi hành án mới nhằm đáp ứng yêu cầu

thực tiễn và bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật

Trên cơ sở tổng kết thực tiễn và yêu cầu hoàn thiện pháp luật, Luật THADS

năm 2025 đã bổ sung một số căn cứ hoãn thi hành án mới, bao gồm: (i) Nhận được

quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, biện pháp ngăn chặn, biện pháp

cưỡng chế đối với tài sản thi hành án của cơ quan tiến hành tố tụng để phục vụ điều

tra, truy tố, xét xử, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác (điểm e khoản 1 Điều

46); (ii) Người được nhận tài sản, người được giao nuôi dưỡng đã được thông báo

hợp lệ 02 lần về việc nhận tài sản, nhận người được nuôi dưỡng nhưng không đến

nhận (điểm i khoản 1 Điều 46); (iii) Nhận được thông báo thụ lý của Tòa án hoặc cơ

quan có thẩm quyền về việc giải quyết đề nghị xem xét lại quyết định công nhận kết

quả hòa giải thành hoặc hủy phán quyết, quyết định (điểm l khoản 1 Điều 46).

- Thứ bảy, điều chỉnh cách tiếp cận đối với một số trường hợp từ “hoãn thi

hành án” sang “chưa có điều kiện thi hành án”

Luật THADS năm 2025 đã có sự điều chỉnh đáng chú ý khi không còn quy

định một số trường hợp thuộc diện hoãn thi hành án như Luật THADS năm 2008

trước đây, mà chuyển sang xác định là chưa có điều kiện thi hành án. Cụ thể, Luật

năm 2025 không còn quy định hoãn thi hành án đối với trường hợp người phải thi

hành án bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quyết định của Tòa án;

thay vào đó, đối với các nghĩa vụ gắn liền với nhân thân hoặc nghĩa vụ mà pháp luật

không cho phép chuyển giao, thì được xác định là chưa có điều kiện thi hành án.

Tương tự, đối với trường hợp tài sản kê biên đang cầm cố, thế chấp mà sau khi giảm

 

54

 

giá có giá trị bằng hoặc thấp hơn chi phí thi hành án và nghĩa vụ được bảo đảm, Luật

cũng không còn coi đây là căn cứ hoãn, mà chuyển sang xác định là chưa có điều

kiện thi hành án, trừ trường hợp người phải thi hành án còn có tài sản, thu nhập khác.

 

Câu 48. Bản án sơ thẩm số XXX của Tòa án nhân dân tỉnh H buộc DNTN thương mại dịch vụ NT (Chủ doanh nghiệp là bà M) phải trả ngân hàng A số tiền 42.000.000.000 đồng. Trường hợp DNTN thương mại dịch vụ NT không trả được nợ, cơ quan THADS có quyền xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất YYY đứng tên bà M và chồng là ông H để đảm bảo thi hành án. Tuy nhiên, do bà K đã khởi kiện tranh chấp hợp đồng mua bán quyền sử dụng đất trên với ông H, bà M và đã được Tòa án có thẩm quyền thụ lý giải quyết nên Cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định hoãn thi hành án.

Hỏi:

Việc hoãn thi hành án của Cơ quan thi hành án dân sự có phù hợp với quy định của pháp luật không?

Đáp:

Để xem xét việc cơ quan THADS ra quyết định hoãn thi hành án trong trường

hợp nêu trên có phù hợp với quy định của pháp luật hay không, cần đánh giá:

- Thứ nhất, tại điểm d khoản 1 Điều 46 Luật THADS năm 2025 quy định cơ

quan THADS ra quyết định hoãn thi hành án trong trường hợp: “Nhận được thông

báo thụ lý của Tòa án về việc giải quyết yêu cầu xác định, phân chia, giải quyết tranh

chấp về quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất, trừ trường hợp tài sản đó đã được

bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật tuyên kê biên, xử lý, công nhận quyền sở

hữu, quyền sử dụng hoặc trường hợp người phải thi hành án có tài sản, thu nhập

khác để thi hành án.”

Trường hợp này, Tòa án đã thụ lý giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán

quyền sử dụng đất YYY. Đây là tranh chấp về quyền sở hữu, quyền sử dụng đất. Tuy

nhiên, tài sản này đã được “bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật tuyên xử lý để

thi hành án”.

Mặt khác, DNTN thương mại dịch vụ NT là doanh nghiệp tư nhân và chủ

doanh nghiệp là bà M. Theo quy định tại Điều 188 Luật doanh nghiệp thì “Doanh

nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng

toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp”. Do đó, bên cạnh việc

xử lý tài sản bảo đảm theo bản án, quyết định thì cơ quan thi hành án dân sự có quyền

kê biên, xử lý tài sản khác của doanh nghiệp và của cá nhân bà M để đảm bảo thi

hành án.

Do đó, cơ quan THADS không có căn cứ hoãn thi hành án trong trường hợp này.


Câu 49. Luật THADS năm 2025 có những quy định sửa đổi, bổ sung nào về việc tạm đình chỉ thi hành án so với Luật THADS năm 2008?

Đáp:

Tại Điều 47 Luật THADS năm 2025 đã quy định về việc tạm đình chỉ thi hành

án. So với Luật THADS năm 2008, có một số nội dung thay đổi như sau:

- Đã sửa đổi, bổ sung trường hợp Thủ trưởng cơ quan THADS ra quyết định

tạm đình chỉ thi hành án khi nhận được “thông báo của Tòa án về việc đã thụ lý đơn

yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi hoặc áp dụng thủ tục phá sản đối với người phải

thi hành án” thay vì chỉ khi nhận được “thông báo của Toà án về việc đã thụ lý đơn

yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với người phải thi hành án” như quy định tại khoản

2 Điều 49 Luật THADS năm 2008. Đồng thời, quy định bổ sung trường hợp loại trừ

không ra quyết định tạm đình chỉ trong trường hợp này nếu đang thi hành bản án,

quyết định buộc doanh nghiệp, hợp tác xã bồi thường về tính mạng, sức khỏe, danh

dự hoặc trợ cấp thôi việc, trả lương cho người lao động; quyết định kê biên tài sản

của doanh nghiệp, hợp tác xã để sung vào công quỹ nhà nước; bản án, quyết định

buộc doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm bằng tài sản của

bên thứ ba hoặc trường hợp khác theo quy định của pháp luật (tại điểm d khoản 1

Điều 47). Quy định này để đảm bảo phù hợp, thống nhất với quy định của Luật Phục

hồi, phá sản số 142/2025/QH15;

- Bổ sung quy định Thủ trưởng cơ quan THADS ra quyết định tạm đình chỉ

thi hành án khi nhận được yêu cầu của Tòa án về việc tạm đình chỉ thi hành quyết

định công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài theo quy định

của Bộ luật Tố tụng dân sự. Trường hợp vụ việc đã được thi hành xong toàn bộ thì

Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự không ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án

mà có văn bản thông báo cho Tòa án biết (tại điểm b khoản 1 Điều 47).

- Bổ sung quy định cơ quan thi hành án dân sự thông báo cho đương sự, người

có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về việc tạm đình chỉ thi hành án trong thời hạn 05

ngày làm việc kể từ ngày nhận được “quyết định tạm đình chỉ việc thi hành quyết

định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia” bên cạnh

trường hợp nhận được quyết định tạm đình chỉ thi hành án của người có thẩm quyền

kháng nghị bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm quy định tại

khoản 1 Điều 49 Luật THADS năm 2008 (tại khoản 2 Điều 47).

- Sửa đổi, bổ sung 02 loại văn bản làm căn cứ để cơ quan THADS ra quyết

định tiếp tục thi hành án sau khi đã ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án tại khoản

3 Điều 47: (1) Thông báo của Tòa án về việc đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động

kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản trong trường

hợp nghĩa vụ về tài sản bị tạm đình chỉ chưa được thanh toán; (2) Quyết định của

Tòa án về việc không mở thủ tục phá sản. Đối với 02 văn bản còn lại, giữ nguyên

 

56

 

theo quy định của Luật THADS năm 2008 (Quyết định rút kháng nghị của người có

thẩm quyền; Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án giữ nguyên hoặc sửa

một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định bị kháng nghị).

 

Câu 50. Luật THADS năm 2025 có những quy định sửa đổi, bổ sung nào về việc đình chỉ thi hành án so với Luật THADS năm 2008?

Đáp:

Tại Điều 48 Luật THADS năm 2025 đã quy định về việc tạm đình chỉ thi hành

án. So với Luật THADS năm 2008, có một số nội dung thay đổi như sau:

- Sửa đổi cụm từ “không để lại di sản” tại điểm a khoản 1 Điều 50 Luật THADS

năm 2008 thành “không có tài sản” trong trường hợp đình chỉ thi hành án khi người

phải thi hành án là cá nhân chết không có tài sản hoặc theo quy định của pháp luật

nghĩa vụ của người đó theo bản án, quyết định không được chuyển giao cho người

thừa kế. Đồng thời, giữ nguyên và hợp nhất quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 50

Luật THADS năm 2008 về căn cứ “trong trường hợp người phải thi hành án là tổ

chức đã bị giải thể, kết thúc hoạt động mà không còn tài sản và theo quy định của

pháp luật nghĩa vụ của họ không được chuyển giao cho tổ chức, cá nhân khác” (khoản

2 Điều 48).

- Bổ sung căn cứ trong trường hợp người được thi hành án là tổ chức bị giải

thể, kết thúc hoạt động mà theo quy định của pháp luật quyền và lợi ích của tổ chức

đó không được chuyển giao cho tổ chức, cá nhân khác thì Thủ trưởng cơ quan

THADS ra quyết định đình chỉ thi hành án. Đối với trường hợp người được thi hành

án là cá nhân chết mà theo quy định của pháp luật quyền và lợi ích của người đó theo

bản án, quyết định không được chuyển giao cho người thừa kế, không có người thừa

kế thì giữ nguyên so với quy định tại điểm b khoản 1 Điều 50 Luật THADS năm

2008 (khoản 1 Điều 48).

- Bổ sung căn cứ “hoặc có bản án, quyết định của Tòa án thay đổi người nuôi

dưỡng” trong trường hợp người được giao nuôi dưỡng theo bản án, quyết định đã

chết, đã thành niên hoặc có bản án, quyết định của Tòa án thay đổi người nuôi dưỡng

(khoản 3 Điều 48).

- Bổ sung cụm từ “hoặc nhằm trốn tránh việc nộp phí thi hành án” đối với căn

cứ Đương sự có thỏa thuận hoặc người được thi hành án yêu cầu đình chỉ một phần

hoặc toàn bộ quyết định thi hành án, trừ trường hợp việc đình chỉ thi hành án ảnh

hưởng đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba hoặc

nhằm trốn tránh việc nộp phí thi hành án. Đồng thời, bổ sung quy định sau khi có

quyết định đình chỉ thi hành án, đương sự không có quyền yêu cầu thi hành án trở lại

đối với nội dung đã đình chỉ (khoản 4 Điều 48).

 

57

 

- Giữ nguyên căn cứ có quyết định miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án tại điểm e

khoản 1 Luật THADS năm 2008 (khoản 5 Điều 48).

- Bổ sung căn cứ khi nhận được bản án, quyết định hủy một phần hoặc toàn

bộ bản án, quyết định đang thi hành; trường hợp giao tài sản cho người mua trúng

đấu giá khi bản án, quyết định bị sửa hoặc bị hủy (quy định tại khoản 4 Điều 86 Luật

THADS năm 2025) thì việc đình chỉ được thực hiện sau khi giao tài sản cho người

mua được tài sản đấu giá (khoản 6 Điều 48).

- Bổ sung căn cứ khi nhận được thông báo của Tòa án về việc đình chỉ thủ tục

phục hồi hoạt động kinh doanh đối với người phải thi hành án theo quy định của Luật

Phục hồi, phá sản trong trường hợp nghĩa vụ về tài sản bị tạm đình chỉ đã được thanh

toán thì ra quyết định đình chỉ thi hành án để phù hợp với Luật Phục hồi, phá sản

năm 2025 (khoản 7 Điều 48).

- Giữ nguyên quy định về căn cứ nhận được quyết định mở thủ tục phá sản

của Tòa án đối với người phải thi hành án tại điểm g khoản 1 Điều 50 Luật THADS

năm 2008 (khoản 8 Điều 48).

 

Câu 51. Bản án sơ thẩm số XXX của Toà án nhân dân khu vực H, tỉnh M có nội dung buộc ông A phải trả cho bà B số tiền 2.000.000.000 đồng. Quá trình tổ chức thi hành án, xác minh ông A có tài sản là quyền sử dụng đất YYY. Chấp hành viên đã kê biên, xử lý tài sản. Ngày 25/12/026, đã bán đấu giá thành, người mua tài sản là bà C đã nộp đủ số tiền mua tài sản đấu giá. Tuy nhiên, đến ngày 30/12/2026, nhận được Bản án phúc thẩm số ZZZ của Toà án nhân dân tỉnh M tuyên huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm XXX của Toà án nhân dân khu vực H. Cơ quan THADS tỉnh M đã ra quyết định đình chỉ thi hành án. Bà C có đơn khiếu nại, đề nghị cơ quan THADS tỉnh M giao tài sản cho bà theo đúng Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá.

Hỏi: Việc đình chỉ thi hành án của Thủ trưởng cơ quan THADS tỉnh M có phù hợp quy định pháp luật hay không?

Đáp:

Thủ trưởng cơ quan THADS tỉnh M ra quyết định đình chỉ thi hành án trong

trường hợp nêu trên chưa phù hợp với quy định của pháp luật, bởi:

- Khoản 4 Điều 86 Luật THADS năm 2025 có quy định: “4. Trường hợp người

mua được tài sản đấu giá đã nộp đủ tiền mua tài sản đấu giá nhưng bản án, quyết

định bị sửa hoặc bị hủy thì cơ quan thi hành án dân sự tiếp tục giao tài sản, kể cả thực

hiện việc cưỡng chế thi hành án để giao tài sản cho người mua được tài sản đấu giá,

trừ trường hợp kết quả đấu giá tài sản bị hủy theo quy định của pháp luật hoặc đương

sự có thỏa thuận khác.”

- Mặt khác, tại khoản 6 Điều 48 Luật THADS năm 2025 về đình chỉ thi hành

án có nội dung thủ trưởng cơ quan THADS ra quyết định đình chỉ thi hành án trong

trường hợp: “6. Nhận được bản án, quyết định hủy một phần hoặc toàn bộ bản án,

quyết định đang thi hành; trường hợp giao tài sản theo quy định tại khoản 4 Điều 86

của Luật này thì việc đình chỉ được thực hiện sau khi giao tài sản cho người mua

được tài sản đấu giá”.

Như vậy, căn cứ quy định nêu trên, trong trường hợp này, sau khi bà C đã nộp

đủ tiền mua tài sản đấu giá, mặc dù Bản án sơ thẩm XXX bị huỷ toàn bộ thì cơ quan

THADS vẫn phải tiếp tục giao tài sản cho bà C, kể cả thực hiện việc cưỡng chế giao,

trừ trường hợp kết quả đấu giá tài sản bị hủy theo quy định của pháp luật hoặc đương

sự có thỏa thuận khác (dữ liệu tình huống đưa ra kết quả đấu giá tài sản không bị

huỷ; đương sự cũng không có thoả thuận). Sau khi tổ chức cưỡng chế giao tài sản

cho bà C, cơ quan THADS mới ban hành quyết định đình chỉ thi hành án.

 

Câu 52. Luật THADS năm 2025 có những quy định sửa đổi, bổ sung nào về việc uỷ thác thi hành án so với Luật THADS năm 2008?

Đáp:

Việc uỷ thác thi hành án được quy định tại Điều 49 Luật THADS năm 2025

trên cơ sở tiếp tục cơ bản kế thừa quy định của các Điều 55, 56, 57 Luật THADS

năm 2008. Bên cạnh đó, có một số nội dung sửa đổi, bổ sung sau:

- Bổ sung quy định đối với trường hợp trên địa bàn có “tài sản là tiền, tài sản

số, tài sản khác trong tài khoản hoặc trường hợp khác theo quy định của Chính

phủ.” thì cơ quan THADS có thể áp dụng các biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng

chế đối với tài sản đó mà không phải thực hiện uỷ thác thi hành án (điểm a khoản 1

Điều 49).

- Quy định tại đoạn 3 điểm a khoản 1 Điều 55 Luật THADS năm 2008 quy

định: “Trường hợp thi hành nghĩa vụ liên đới mà người phải thi hành án có tài sản,

làm việc, cư trú hoặc có trụ sở ở các địa phương khác nhau thì ủy thác toàn bộ nghĩa

vụ thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự thuộc một trong các địa phương nơi

người phải thi hành án có điều kiện thi hành án”. Tuy nhiên, Luật THADS năm 2025

đã quy định “Trường hợp thi hành nghĩa vụ liên đới mà người phải thi hành án có tài

sản, làm việc, cư trú hoặc có trụ sở ở các địa phương khác nhau thì ủy thác toàn bộ

nghĩa vụ thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự thuộc một trong các địa phương

nơi người phải thi hành án có điều kiện thi hành án, trừ trường hợp quy định tại khoản

1 Điều 50 của Luật này”.

- Bổ sung quy định đối với trường hợp vật chứng, tài sản mà bản án, quyết

định tuyên tịch thu sung quỹ ở nơi khác thì cơ quan THADS thực hiện uỷ thác thi

 

59

 

hành án cho cơ quan THADS nơi có vật chứng, tài sản mà không phải chờ sau khi

xử lý xong tài sản trên địa bàn (điểm b khoản 1 Điều 49 Luật THADS năm 2025).

- Bên cạnh đó, Luật THADS năm 2025 đã thu hút quy định của Nghị định số

62/2025/NĐ-CP: “Các quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án, quyết

định tạm hoãn xuất cảnh và các quyết định về thi hành án khác liên quan đến khoản

ủy thác của cơ quan ủy thác có hiệu lực cho đến khi có quyết định thay thế của cơ

quan thi hành án dân sự nhận ủy thác.” (khoản 2 Điều 49).

 

Câu 53. Bản án sơ thẩm XXX của Toà án nhân dân tỉnh H có nội dung tuyên buộc Công ty A (do ông C làm chủ) phải trả cho Ngân hàng M số tiền 15.000.000.000 đồng chậm nhất ngày 20/9/2026. Trường hợp Công ty A không trả thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan THADS xử lý các tài sản bảo đảm theo hợp đồng bảo đảm, bao gồm:

- Quyền sử dụng đất YYY đứng tên ông C và bà D là vợ ông C tại địa chỉ tỉnh

H để đảm bảo cho khoản vay 3.000.000.000 đồng;

- Quyền sử dụng đất ZZZ đứng tên ông C và bà D là vợ ông C tại địa chỉ tỉnh

K để đảm bảo cho khoản vay 7.000.000.000 đồng;

Căn cứ đơn yêu cầu thi hành án của Ngân hàng M, cơ quan THADS tỉnh H ra

quyết định thi hành án. Quá trình tổ chức thi hành án, Chấp hành viên đang kê biên,

xử lý tài sản là Quyền sử dụng đất YYY trên địa bàn tỉnh H

Hỏi: Cơ quan THADS tỉnh H thực hiện việc ủy thác thi hành án như thế nào

trong trường hợp này?

Đáp:

Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 49 Luật THADS năm 2025 thì: “a) Ủy

thác thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự nơi người phải thi hành án có tài sản,

làm việc, cư trú hoặc có trụ sở sau khi đã xử lý xong tài sản tạm giữ, thu giữ, tài sản

kê biên trên địa bàn có liên quan đến khoản ủy thác, trừ trường hợp quy định tại điểm

b khoản này, trường hợp tài sản là tiền, tài sản số, tài sản khác trong tài khoản hoặc

trường hợp khác theo quy định của Chính phủ; b) Ủy thác thi hành án đối với khoản

phải thi hành án cụ thể có tài sản bảo đảm theo bản án, quyết định cho cơ quan thi

hành án dân sự nơi có tài sản”.

Trong trường hợp này, vì “Quyền sử dụng đất ZZZ đứng tên ông C và bà D là

vợ ông C tại địa chỉ tỉnh K để đảm bảo cho khoản vay 7.000.000.000 đồng”, đây là

tài sản bảo đảm để thi hành một nghĩa vụ cụ thể. Do đó, cơ quan THADS tỉnh H căn

cứ quy định tại khoản 1 Điều 49 của Luật THADS để ủy thác cho cơ quan THADS

tỉnh K thi hành số tiền 7.000.000.000 đồng mà không cần xử lý xong tài sản trên địa

bàn tỉnh H.

 

60

 

Cơ quan THADS tỉnh H tiếp tục xử lý tài sản là Quyền sử dụng đất YYY trên

địa bàn, đồng thời xác minh, xử lý các tài sản khác của Công ty A để thi hành án đối

với phần nghĩa vụ còn lại.

 

Câu 54. Luật THADS năm 2025 có những quy định sửa đổi, bổ sung nào về việc uỷ thác xử lý tài sản so với Luật THADS năm 2008?

Đáp:

Việc uỷ thác xử lý tài sản được quy định tại Điều 50 Luật THADS năm 2025

trên cơ sở tiếp tục cơ bản kế thừa quy định của các Điều 55, 56, 57 Luật THADS

năm 2008, theo đó, giữ nguyên cơ chế cơ quan THADS xử lý tài sản trên địa bàn

tỉnh, thành phố nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở, đồng thời có thể ủy thác xử

lý tài sản cho cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố khác nơi có tài sản được

bản án, quyết định tuyên kê biên, phong tỏa hoặc xử lý tài sản để bảo đảm thi hành

án trong trường hợp tài sản ở nhiều địa phương khác nhau.

Bên cạnh đó, có một số quy định sửa đổi, bổ sung như sau:

- Bổ sung quy định được uỷ thác xử lý tài sản trong trường hợp thi hành nghĩa

vụ liên đới, theo đó, khi thi hành nghĩa vụ liên đới, cơ quan thi hành án dân sự có thể

ủy thác xử lý tài sản cho cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố khác nơi có tài

sản khi có một trong các căn cứ sau đây:

+ Tài sản trên địa bàn tỉnh, thành phố nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở

không đủ để thi hành án;

+ Tài sản trên địa bàn tỉnh, thành phố nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở

đã được Tòa án, cơ quan có thẩm quyền thụ lý để giải quyết yêu cầu xác định, phân

chia, giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất, trừ trường

hợp tài sản đó đã được bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật tuyên kê biên, xử lý,

công nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng mà người phải thi hành án không có tài sản

khác trên địa bàn tỉnh, thành phố đó để thi hành án.

 

Câu 55. Bản án sơ thẩm XXX của Toà án nhân dân tỉnh X có nội dung tuyên buộc ông A, bà B, ông C phải liên đới trả cho ông D số tiền 6 tỷ đồng. Cơ quan THADS tỉnh X đang tổ chức thi hành án. Qua xác minh cho thấy Ông A có 1 căn nhà tại tỉnh X, giá trị khoảng 2 tỷ đồng, Bà B không có tài sản tại tỉnh X, nhưng có 1 lô đất tại tỉnh Y, trị giá khoảng 3 tỷ đồng, Ông C có 1 xe ô tô tại tỉnh Z, trị giá khoảng 1,5 tỷ đồng. Cơ quan THADS tỉnh X xử lý tài sản xong tài sản của ông A tại địa bàn tỉnh X, đồng thời thực hiện uỷ thác cho cơ quan THADS tỉnh Y xử lý tài sản của bà B và uỷ thác cho cơ quan THADS tỉnh Z để xử lý tài sản của bà C để đảm bảo thi hành án.

Hỏi: Việc cơ quan THADS tỉnh X uỷ thác cho cơ quan THADS tỉnh Y, cơ quan THADS tỉnh X xử lý tài sản của bà B, ông C có phù hợp với quy định pháp luật hay không?

Đáp:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 50 Luật THADS năm 2025 thì: “1.Cơ quan

thi hành án dân sự xử lý tài sản trên địa bàn tỉnh, thành phố nơi cơ quan thi hành án

dân sự có trụ sở, đồng thời có thể ủy thác xử lý tài sản cho cơ quan thi hành án dân

sự tỉnh, thành phố khác nơi có tài sản được bản án, quyết định tuyên kê biên, phong

tỏa hoặc xử lý tài sản để bảo đảm thi hành án trong trường hợp tài sản ở nhiều địa

phương khác nhau.”

Theo như dữ liệu câu hỏi đưa ra, các tài sản của bà B, ông C đều là tài sản do

Chấp hành viên thực hiện xác minh, nằm ở nhiều địa phương khác nhau, không phải

là các tài sản được bản án, quyết định tuyên kê biên, phong tỏa hoặc xử lý tài sản để

bảo đảm thi hành án. Do đó, không thể áp dụng quy định về việc uỷ thác xử lý tài

sản trong trường hợp này.

Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 49 Luật THADS về uỷ thác thi hành

án thì cơ quan THADS phải uỷ thác thi hành án đối với trường hợp: “a) Ủy thác thi

hành án cho cơ quan thi hành án dân sự nơi người phải thi hành án có tài sản, làm

việc, cư trú hoặc có trụ sở sau khi đã xử lý xong tài sản tạm giữ, thu giữ, tài sản kê

biên trên địa bàn có liên quan đến khoản ủy thác, trừ trường hợp quy định tại điểm b

khoản này, trường hợp tài sản là tiền, tài sản số, tài sản khác trong tài khoản

hoặc trường hợp khác theo quy định của Chính phủ.

........

Trường hợp thi hành nghĩa vụ liên đới mà người phải thi hành án có tài sản,

làm việc, cư trú hoặc có trụ sở ở các địa phương khác nhau thì ủy thác toàn bộ nghĩa

vụ thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự thuộc một trong các địa phương nơi

người phải thi hành án có điều kiện thi hành án, trừ trường hợp quy định tại khoản

1 Điều 50 của Luật này”

Đối chiếu dữ liệu câu hỏi, trên địa bàn tỉnh X có tài sản của ông A, trên địa

bàn tỉnh Y có tài sản của bà B, trên địa bàn tỉnh Z có tài sản của ông C. Áp dụng quy

định tại điểm a khoản 1 Điều 49 Luật THADS năm 2025 thì cơ quan THADS tỉnh X

sẽ cần phải xử lý xong tài sản của ông A trên địa bàn, sau đó, sẽ thực hiện uỷ thác

thi hành án đến cơ quan THADS tỉnh Y hoặc cơ quan THADS tỉnh Z để tiếp tục tổ

chức thi hành án.

 

62

 

Trường hợp này, cơ quan THADS tỉnh X căn cứ Điều 50 Luật THADS năm

2025 để ủy thác xử lý tài sản đến cơ quan THADS tỉnh Y để xử lý tài sản của bà B,

đến cơ quan THADS tỉnh Z để xử lý tài sản của ông C là phù hợp.

Câu 56. Bản án sơ thẩm số XXX của Toà án nhân dân tỉnh A có nội dung

tuyên buộc ông M và bà N phải liên đới trả cho Ngân hàng K số tiền 4 tỷ đồng. Để

đảm bảo thi hành án, Bản án tuyên kê biên, xử lý tài sản là Quyền sử dụng đất của

ông M tại tỉnh A; kê biên, xử lý tài sản là Quyền sử dụng đất của bà N tại tỉnh B để

đảm bảo thi hành án.

Cơ quan THADS tỉnh A tổ chức thi hành. Kết quả xác minh cho thấy, Quyền

sử dụng đất của ông M tại tỉnh A có giá trị khoảng 5 tỷ đồng; quyền sử dụng đất của

bà N có giá trị khoảng 4 tỷ đồng. Cơ quan THADS tỉnh A đang thực hiện xử lý tài

sản của ông M. Tuy nhiên, quá trình xử lý, nhận được Thông báo thụ lý của Toà án

về việc giải quyết tranh chấp quyền sở hữu quyền sử dụng đất giữa ông M và bà H.

Do tài sản bị Toà án thụ lý giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu, cơ quan THADS

tỉnh A đã dừng việc xử lý tài sản. Đồng thời, thực hiện uỷ thác cho cơ quan THADS

tỉnh B xử lý tài sản của bà N.

Hỏi: Cơ quan THADS tỉnh A thực hiện uỷ thác xử lý tài sản trong trường hợp

này có phù hợp với quy định pháp luật hay không?

Đáp:

Theo quy định tại khoản 2 Điều 50 Luật THADS năm 2025 thì: “2. Trường

hợp thi hành nghĩa vụ liên đới, cơ quan thi hành án dân sự có thể ủy thác xử lý tài

sản cho cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố khác nơi có tài sản khi có một

trong các căn cứ sau đây:

a) Tài sản trên địa bàn tỉnh, thành phố nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ

sở không đủ để thi hành án;

b) Tài sản trên địa bàn tỉnh, thành phố nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ

sở đã được Tòa án, cơ quan có thẩm quyền thụ lý để giải quyết yêu cầu xác định,

phân chia, giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất, trừ

trường hợp tài sản đó đã được bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật tuyên kê biên,

xử lý, công nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng mà người phải thi hành án không có

tài sản khác trên địa bàn tỉnh, thành phố đó để thi hành án.”

Phân tích dữ liệu câu hỏi đưa ra, đây là khoản thi hành nghĩa vụ liên đới của

ông M và bà N, các tài sản của ông M, bà N nằm ở 02 địa phương khác nhau, cơ

quan THADS tỉnh A có thể thực hiện uỷ thác cho cơ quan THADS tỉnh B xử lý tài

sản của bà N khi thuộc một trong 2 trường hợp:

- Trường hợp 01: Tài sản của ông M trên địa bàn không đủ để thi hành án

(điểm a khoản 2 Điều 50). Trường hợp này, tài sản của ông M có giá trị khoảng 5 tỷ,

 

63

 

đã đủ để thi hành án, do đó, đây không phải là căn cứ để thực hiện uỷ thác xử lý tài

sản.

- Trường hợp 02: Tài sản của ông M trên địa bàn đã bị Toà án thụ lý để giải

quyết tranh chấp về quyền sở hữu, quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, tại điểm b khoản

2 Điều 50 Luật THADS năm 2025 đã đưa ra quy định loại trừ, trong trường hợp có

tranh chấp về quyền sở hữu, quyền sử dụng đất nhưng nếu tài sản đó đã được bản án,

quyết định có hiệu lực pháp luật tuyên kê biên, xử lý để đảm bảo thi hành án thì cơ

quan THADS sẽ không thực hiện dừng việc xử lý tài sản đó. Trường hợp này, tài sản

của ông M đã được bản án tuyên kê biên, xử lý để đảm bảo thi hành án. Do đó, trường

hợp này cũng không đủ căn cứ để thực hiện uỷ thác xử lý tài sản.

Như vậy, việc cơ quan THADS tỉnh A uỷ thác cho cơ quan THADS tỉnh B xử

lý tài sản của bà N là chưa phù hợp với quy định pháp luật.

Câu 57. Luật THADS năm 2025 có những quy định sửa đổi, bổ sung nào về việc thu hồi, sửa đổi, bổ sung, huỷ quyết định về thi hành án so với Luật THADS năm 2008?

Đáp:

Việc thu hồi, sửa đổi, bổ sung, huỷ quyết định về thi hành án được quy định

tại Điều 52 Luật THADS năm 2025. So với Luật THADS năm 2008 có một số nội

dung sửa đổi, bổ sung cụ thể như sau:

1.Về thu hồi quyết định về thi hành án (khoản 1 Điều 52): Bên cạnh các căn cứ

quy định thu hồi giữ nguyên so với Luật THADS năm 2008: (i) Quyết định về thi hành

án được ban hành không đúng thẩm quyền; (ii) Quyết định về thi hành án có sai sót

làm thay đổi nội dung vụ việc; (iii) Căn cứ ra quyết định về thi hành án không còn.

Luật THADS năm 2025 đã không quy định căn cứ thu hồi quyết định thi hành án trong

trường hợp chuyển giao quyền, nghĩa vụ thi hành án, bởi Luật THADS năm 2025 đã

sửa đổi quy định trường hợp chuyển giao quyền, nghĩa vụ thi hành án, cơ quan THADS

không thu hồi quyết định thi hành án mà ban hành Quyết định chuyển giao quyền,

nghĩa vụ để tiếp tục tổ chức thi hành án. Mặt khác, Luật THADS năm 2025 đã bổ sung

căn cứ thu hồi quyết định thi hành án trong trường hợp thực hiện uỷ thác thi hành án

theo quy định tại Điều 49 Luật THADS. Ngoài ra, Luật còn quy định thu hồi quyết

định về thi hành án trong “Trường hợp khác theo quy định của pháp luật”.

2.Về sửa đổi, bổ sung quyết định về thi hành án (khoản 2 Điều 52): giữ nguyên

quy định của Luật THADS năm 2008, theo đó: “2. Người có thẩm quyền ra quyết

định về thi hành án, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có quyền ra quyết định

sửa đổi, bổ sung hoặc yêu cầu sửa đổi, bổ sung quyết định về thi hành án trong trường

hợp quyết định về thi hành án có sai sót mà không làm thay đổi nội dung vụ việc thi

hành án.”.


3.Về huỷ quyết định về thi hành án (khoản 4 Điều 52): giữ nguyên quy định

của Luật THADS năm 2008, theo đó: “4. Người có thẩm quyền ra quyết định về thi

hành án, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có quyền ra quyết định hủy hoặc

yêu cầu hủy quyết định về thi hành án của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự,

Chấp hành viên thuộc quyền quản lý trực tiếp trong các trường hợp sau đây:

a) Phát hiện các trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này mà Thủ

trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên thuộc quyền quản lý trực tiếp

không tự khắc phục sau khi có yêu cầu;

b) Quyết định về thi hành án có vi phạm pháp luật theo kết luận của cơ quan

có thẩm quyền.”

4. Bên cạnh đó, tại khoản 3 Điều 52 Luật THADS năm 2025 đã bổ sung quy

định: “3. Văn bản giải thích, sửa chữa bản án, quyết định của cơ quan đã ra bản án,

quyết định là căn cứ để cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án, thu

hồi, sửa đổi, bổ sung quyết định về thi hành án đã ban hành hoặc tiếp tục tổ chức

thi hành án.”.

 

Câu 58. Luật THADS năm 2025 có những quy định sửa đổi, bổ sung nào về phí, chi phí thi hành án so với Luật THADS năm 2008?

Đáp:

1. Về phí thi hành án:

- Thứ nhất, Luật THADS năm 2025 đã sửa đổi quy định về khái niệm “Phí thi

hành án”, theo đó, tại khoản 10 Điều 3 quy định: “10. Phí thi hành án là khoản tiền

mà đương sự phải nộp khi người được thi hành án nhận được tiền, tài sản theo bản

án, quyết định.”, trong khi đó, khoản 7 Điều 3 Luật THADS năm 2008 quy định: “7.

Phí thi hành án là khoản tiền mà người được thi hành án phải nộp khi nhận được

tiền, tài sản theo bản án, quyết định.”. Như vậy, chủ thể nộp phí thi hành án là “đương

sự” bao gồm cả người được thi hành án, người phải thi hành án theo Luật THADS

năm 2025 thay vì chỉ có “người được thi hành án” theo Luật THADS năm 2008.

- Thứ hai, tại khoản 1 Điều 53 Luật THADS năm 2025 đã quy định đương sự

yêu cầu thi hành án phải nộp phí thi hành án. Đây là quy định được bổ sung để đảm

bảo thống nhất với Luật phí, lệ phí. Theo đó, người yêu cầu nhà nước cung cấp dịch

vụ thì phải nộp phí.

- Thứ ba, tại khoản 1 Điều 53 Luật THADS năm 2025 cũng đưa ra một số quy

định riêng về phí thi hành án, cụ thể:

+ Người phải thi hành án không phải chịu phí thi hành án đối với khoản tiền,

tài sản đã thi hành trước khi có quyết định thi hành án hoặc trong thời hạn tự nguyện

thi hành án.


+ Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định thi hành án theo

yêu cầu của người phải thi hành án trước ngày 01 tháng 7 năm 2026 thì người phải

thi hành án không phải chịu phí thi hành án đối với khoản phải thi hành án.

2. Về chi phí thi hành án

- Thứ nhất, Luật THADS năm 2025 đã bổ sung khái niệm về “Chi phí thi hành

án”, theo đó, tại khoản 2 Điều 53 quy định: “2. Chi phí thi hành án là các chi phí phát

sinh trong quá trình tổ chức thi hành án, bao gồm chi phí cưỡng chế và chi phí khác.

Chi phí thi hành án do người phải thi hành án chịu, trừ trường hợp pháp luật quy định

do ngân sách nhà nước, người được thi hành án hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác

chịu.”

- Thứ hai, về chi phí cưỡng chế thi hành án: Luật THADS năm 2025 cơ bản

giữ nguyên các quy định về các chi phí cưỡng chế thi hành án đối với từng đối tượng

là người phải thi hành án, người được thi hành án, ngân sách nhà nước chi trả. Bên

cạnh đó, có một số nội dung bổ sung sau:

+ Đối với các chi phí cưỡng chế do người phải thi hành án chịu: giữ nguyên

quy định hiện hành, chỉ sửa đổi “chi phí cho việc định giá” thành “chi phí cho việc

thẩm định giá, xác định giá”; “chi phí định giá lại” thành “chi phí thẩm định giá lại,

xác định giá lại” để phù hợp với quy định tại Điều 82 Luật THADS 2025 về “Thẩm

định giá, xác định giá tài sản kê biên”. Bên cạnh đó, Luật THADS 2025 bổ sung quy

định “Chi phí khác theo quy định của Chính phủ”.

+ Đối với các chi phí cưỡng chế do người được thi hành án chịu: cơ bản giữ

nguyên quy định hiện hành. Bên cạnh đó, bổ sung quy định người được thi hành án phải

chịu chi phí thẩm định giá lại tài sản trong trường hợp đương sự thoả thuận hoặc người

được thi hành án có văn bản đề nghị hoãn thi hành án theo quy định tại điểm c khoản 1

Điều 46 Luật THADS dẫn đến chứng thư thẩm định giá hết hiệu lực. Đồng thời, Luật

THADS 2025 bổ sung quy định “Chi phí khác theo quy định của Chính phủ”.

+ Đối với các chi phí cưỡng chế do Ngân sách nhà nước trả:

Một là, Luật THADS đã sửa đổi, bổ sung quy định Ngân sách nhà nước trả chi

phí “định giá lại tài sản khi có vi phạm quy định về giá” thành “thẩm định giá lại,

xác định giá lại tài sản theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 82 Luật”.

Theo đó, điểm a khoản 2 Điều 82 quy định: “a) Có kết luận của cơ quan, người có

thẩm quyền về việc Chấp hành viên hoặc doanh nghiệp thẩm định giá có vi phạm

nghiêm trọng dẫn đến sai lệch kết quả thẩm định giá, xác định giá;”. Điểm b khoản

2 Điều 82 quy định: “b) Chứng thư thẩm định giá đã hết hiệu lực trước khi ký hợp

đồng dịch vụ đấu giá tài sản, trừ trường hợp đương sự có thỏa thuận về việc tiếp tục

sử dụng giá theo chứng thư đó”. Như vậy, Luật THADS năm 2025 đã quy định cụ

thể các trường hợp được coi là có vi phạm quy định về giá để ngân sách nhà nước

chi trả chi phí thẩm định giá, xác định giá lại tài sản. Đồng thời, bổ sung trường hợp

ngân sách nhà nước chi trả chi phí thẩm định giá, xác định giá lại tài sản khi “chứng

 

66

 

thư thẩm định giá đã hết hiệu lực trước khi ký hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản, trừ

trường hợp đương sự có thỏa thuận về việc tiếp tục sử dụng giá theo chứng thư đó”.

Hai là, quy định rõ ngân sách nhà nước trả chi phí “xác minh điều kiện thi hành

án trước khi có quyết định cưỡng chế” thay vì “chi phí xác minh điều kiện thi hành

án” như Luật hiện hành nhằm xác định rõ phạm vi chi phí xác minh do ngân sách chi

trả. Như vậy, sau khi có quyết định cưỡng chế, chi phí xác minh điều kiện thi hành án

sẽ do đương sự chịu, dự thảo Nghị định sẽ quy định chi tiết về nội dung này.

 

Câu 59. Luật THADS năm 2025 có những quy định sửa đổi, bổ sung nào về thanh toán tiền thi hành án so với Luật THADS năm 2008?

Đáp:

Việc thanh toán tiền thi hành án được quy định tại Điều 54 Luật THADS năm

2025. Đây là quy định có nhiều nội dung được Luật THADS năm 2025 sửa đổi, bổ

sung so với Luật THADS năm 2008, cụ thể:

- Thứ nhất, Luật THADS năm 2025 đã bổ sung, mở rộng các khoản được trừ

từ số tiền thu được trước khi thực hiện thanh toán, cụ thể: bên cạnh các khoản chi

phí thi hành án, khoản tiền trích lại để đương sự thuê nhà quy định tại khoản 2 Điều

89 thì “các khoản phí, lệ phí trước bạ, thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh

nghiệp liên quan trực tiếp đến việc chuyển nhượng tài sản” cũng được trừ vào số tiền

thu được trước khi thực hiện thanh toán. Quy định này giải quyết vướng mắc trong thực

tiễn xử lý tài sản thi hành án (đặc biệt là bán đấu giá bất động sản), tránh tình trạng cơ

quan THADS phải tạm giữ khoản tiền này hoặc phát sinh tranh chấp giữa cơ quan thuế

và đương sự, bảo vệ quyền lợi của người mua tài sản đấu giá thi hành án.

- Thứ hai, quy định bổ sung các khoản “c) Tiền phạt; khoản truy thu tiền để

sung quỹ nhà nước” và “d) Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế”

được thực hiện ưu tiên thanh toán trước “Các khoản phải thi hành án khác theo bản

án, quyết định”. Đây là nội dung bổ sung rất quan trọng. Quy định này để đảm bảo

nghĩa vụ đối với nhà nước, bảo vệ quyền lợi người lao động, phù hợp chính sách an

sinh xã hội và đồng bộ với pháp luật về bảo hiểm xã hội, khắc phục bất cập thực tiễn

khi doanh nghiệp nợ bảo hiểm xã hội nhưng vẫn phải thanh toán nghĩa vụ dân sự

khác trước.

- Thứ ba, đối với trường hợp có nhiều người được thi hành án, Luật THADS

năm 2025 đã có quy định cụ thể, rõ ràng hơn về việc thanh toán số tiền thi hành án thu

theo quyết định cưỡng chế thi hành án được thanh toán cho “những người được thi

hành án theo một hoặc nhiều bản án, quyết định đã có yêu cầu của đương sự đang do

cơ quan thi hành án dân sự đó tổ chức thi hành tính đến thời điểm có quyết định cưỡng

chế” thay vì chỉ quy định khái quát được thanh toán cho “những người được thi hành

án tính đến thời điểm có quyết định cưỡng chế” như hiện hành. Luật THADS năm

 

67

 

2025 đã xác định, những người được thi hành án được thanh toán phải đáp ứng điều

kiện “đã có yêu cầu của đương sự”, yêu cầu này có thể là yêu cầu của người được thi

hành án hoặc của người phải thi hành án và phải là người được thi hành án “theo một

hoặc nhiều bản án, quyết định do cơ quan THADS đó tổ chức thi hành”.

- Thứ tư, đối với việc thanh toán tiền trong trường hợp bán tài sản mà bản án,

quyết định tuyên kê biên để bảo đảm thi hành một nghĩa vụ cụ thể: Luật THADS

năm 2008 quy định “trường hợp bán tài sản mà bản án, quyết định tuyên kê biên để

bảo đảm thi hành một nghĩa vụ cụ thể” thì bên có nghĩa vụ được bảo đảm được ưu

tiên thanh toán. Tuy nhiên, Luật THADS năm 2025 đã quy định rõ “nghĩa vụ cụ thể”

phải “đã được xác định trong bản án, quyết định” thì người có nghĩa vụ được bảo

đảm được ưu tiên thanh toán. Việc bổ sung cụm từ “đã được xác định trong bản án,

quyết định” nhằm mục đích xác định chỉ những trường hợp khoản nghĩa vụ cụ thể

được tuyên bán tài sản được xác định trong bản án, quyết định mới được ưu tiên

thanh toán cho bên có nghĩa vụ được bảo đảm.

Ví dụ: Bản án sơ thẩm về tranh chấp hợp đồng mua bán nhà có nội dung:

“Tuyên buộc ông A phải trả cho ông B số tiền 2 tỷ đồng. Trường hợp ông A không

thi hành thì ông B có quyền đề nghị cơ quan THADS kê biên xử lý tài sản là quyền

sử dụng đất số XXX của ông A để đảm bảo thi hành án”. Trường hợp này, nội dung

quyết định của bản án chỉ tuyên ông B có quyền đề nghị cơ quan THADS kê biên xử

lý tài sản chứ không trực tiếp tuyên cơ quan THADS thực hiện kê biên, xử lý tài sản

của ông A để đảm bảo thi hành khoản nghĩa vụ của ông A với ông B là 2 tỷ.

- Thứ năm, Luật THADS năm 2025 đã bổ sung quy định về việc thanh toán

tiền trong trường hợp xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu thực hiện theo quy

định của Luật Các tổ chức tín dụng sau khi trừ khoản tiền trích lại quy định tại khoản

2 Điều 89 của Luật THADS. Theo đó, trong trường hợp xử lý tài sản bảo đảm của

khoản nợ xấu thì trước khi thực hiện việc thanh toán tiền theo thứ tự ưu tiên quy định

tại Điều 199 Luật Các tổ chức tín dụng thì số tiền thu được phải được trừ đi khoản

tiền trích lại cho người phải thi hành án thuê nhà quy định tại khoản 2 Điều 89 Luật

THADS.

- Thứ sáu, về thời hạn thực hiện thanh toán tiền thi hành án: Luật THADS năm

2025 giữ nguyên thời hạn Chấp hành viên thực hiện thanh toán là 10 ngày kể từ ngày

thu được tiền thi hành án. Tuy nhiên, bổ sung thêm trường hợp 10 ngày kể từ “ngày

giao tài sản cho người mua được tài sản, người nhận tài sản để trừ vào tiền được thi

hành án” để phù hợp với thực tiễn trong trường hợp bán tài sản hoặc người được thi

hành án nhận tài sản để trừ vào tiền thi hành án, nhằm đảm bảo quyền lợi cho người

mua tài sản, người được thi hành án nhận tài sản. Bên cạnh đó, quy định bổ sung

không áp dụng thời hạn 10 ngày trong trường hợp cần kéo dài thời hạn thanh toán

tiền thi hành án theo quy định của Chính phủ.

- Thứ bảy, Luật THADS năm 2025 đã quy định cụ thể việc thanh toán tiền

được thực hiện bằng hình thức chuyển khoản, trường hợp không thể chuyển khoản

thì thanh toán trực tiếp hoặc hình thức khác theo quy định của Chính phủ. Trường

hợp đương sự không đến nhận thì số tiền đó được xử lý theo quy định tại Điều 59

của Luật này.

 

Câu 60. Theo Bản án số 105/2026/LĐ-ST ngày 28/9/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh K thì Công ty TNHH S phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và lãi tính đến ngày 30/11/2024 là 1.5 tỷ đồng cho Bảo hiểm xã hội khu vực M trụ sở chính tại tỉnh K. Ngoài ra, Công ty TNHH S còn phải thi hành 116 Bản án, Quyết định của Tòa án để trả lương cho người lao động với tổng số tiền cả gốc và lãi 2.1 tỷ đồng; 09 Bản án, Quyết định của Tòa án để trả tiền công dân, tổ chức khác với tổng số tiền gốc và lãi 2.3 tỷ đồng. Tổng án phí phải thi hành là 200 triệu đồng.

Cơ quan THADS tỉnh K đã ban hành Quyết định thi hành án cho thi hành

khoản: buộc Công ty TNHH S thực hiện nghĩa vụ trả nợ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm

y tế, bảo hiểm thất nghiệp và lãi tính đến ngày 30/11/2024 là 1.538.558.179 đồng

cho Bảo hiểm xã hội khu vực M tỉnh K. Đồng thời cũng đã ban hành các quyết định

để cho thi hành 125 bản án, quyết định khác nêu trên.

Quá trình tổ chức thi hành án, căn cứ kết quả xác minh điều kiện thi hành án,

Chấp hành viên đã kê biên, xử lý tài sản là Quyền sử dụng đất XXX của Công ty

TNHH S. Tài sản của Công ty TNHH S bán đấu giá thành và đã thu được số tiền 5.5

tỷ đồng (sau khi trừ đi các khoản chi phí thi hành án, các khoản tiền phí, lệ phí, thuế

liên quan đến việc chuyển nhượng tài sản).

Hỏi: Chấp hành viên thực hiện thanh toán tiền thi hành án như thế nào trong

trường hợp nêu trên.

Đáp:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 54 Luật THADS năm 2025 thì: “1. Sau khi

trừ các chi phí thi hành án, khoản tiền trích lại quy định tại khoản 2 Điều 89 của Luật

này và các khoản phí, lệ phí trước bạ, thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh

nghiệp liên quan trực tiếp đến việc chuyển nhượng tài sản thì số tiền thi hành án được

thanh toán cho các nghĩa vụ thi hành án theo thứ tự sau đây:

a) Tiền cấp dưỡng; tiền lương, tiền công lao động, trợ cấp thôi việc, trợ cấp

mất việc làm, trợ cấp mất sức lao động; tiền bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức

khỏe, tổn thất về tinh thần;

b) Án phí, lệ phí Tòa án;

c) Tiền phạt; khoản truy thu tiền để sung quỹ nhà nước;

 

69

 

d) Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế;

đ) Các khoản phải thi hành án khác theo bản án, quyết định.”

Đối chiếu quy định nêu trên, số tiền thi hành án sẽ được thanh toán theo thứ

tự ưu tiên:

- (1) Thanh toán tiền lương cho những người lao động theo 116 Bản án, Quyết

định của Tòa án: 2,1 tỷ đồng.

- (2) Thanh toán án phí: 200 triệu đồng

- (3) Thanh toán cho Bảo hiểm xã hội khu vực M tỉnh K số tiền: 1,5 tỷ đồng

- (4) Thanh toán cho công dân, tổ chức khác theo 09 bản án, quyết định của

Toà án: 1,7 tỷ đồng. Những người được thi hành án theo 09 bản án, quyết định này

được chia theo tỷ lệ số tiền được nhận theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 54 Luật

THADS năm 2025.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét