CẨM
NANG CÁC QUY ĐỊNH MỚI CỦA PHÁP LUẬT VỀ HÌNH SỰ, TỐ TỤNG HÌNH SỰ, TƯ PHÁP NGƯỜI
CHƯA THÀNH NIÊN, THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ, ĐẶC XÁ
Cẩm
nang này giới thiệu các quy định mới của pháp luật tại các văn bản: (1) Bộ luật
Hình sự được sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Luật số 86/2025/QH); (2) Bộ luật Tố tụng
hình sự được sửa đổi, bổ sung năm 2015 (Luật số 99/2025/QH); (3) Luật Tư pháp
người chưa thành niên được sửa đổi, bổ sung năm 2025 (được sửa đổi, bổ sung một
số điều theo Luật số 85/2025/QH15); (4) Các luật liên quan đến thi hành án hình
sự, đặc xá…;
I. BỘ
LUẬT HÌNH SỰ (sửa đổi, bổ sung năm 2025)
Ngày
25/6/2025, tại Kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật số 86/2025/QH 15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự, trong đó sửa đổi, bổ sung 39
điều của Bộ luật Hình sự, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025. Luật này có những nội
dung sửa đổi mới như sau:
1. Bổ
sung Tội sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 256a)
Bổ
sung Tội sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 256a) theo hướng chỉ xử lý đối với
những trường hợp sau đây mà tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy: (1) Đang
trong thời hạn cai nghiện ma túy hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc
thay thế; (2) Đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy; (3) Đang trong
thời hạn 02 năm kể từ ngày hết thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy và trong
thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy; (4) Đang trong thời hạn
02 năm kể từ khi tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc điều trị nghiện
các chất ma túy bằng thuốc thay thế.
Căn cứ
bổ sung tội danh:
- Ngày
18/3/2025, Bộ Chính trị có Kết luận số 132-KL/TW về tăng cường, nâng cao hiệu
quả công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy, theo đó, cần phải “áp dụng chính
sách hình sự nghiêm khắc hơn để giảm cầu ma túy, chặn đứng mối quan hệ cung, cầu
ma túy”.
- Theo
Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 16/08/2019 của Bộ Chính trị về tăng cường, nâng cao hiệu
quả công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy thì cần có chế tài nghiêm khắc
hơn đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
- Thực
tiễn công tác đấu tranh, phòng, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật
về ma túy thấy rằng, hiện nay, tình hình nghiện ma túy diễn ra rất phức tạp, số
người nghiện ma túy đang có xu hướng gia tăng gây ra các áp lực về an ninh, trật
tự, an toàn xã hội1 .
1 Theo
thống kê, từ ngày 01/01/2018 đến hết ngày 31/5/2025, tỉ lệ tội phạm do người sử
dụng trái phép chất ma túy thực hiện chiếm tỉ lệ gần 10% trên tổng số tội phạm
được phát hiện; trong đó, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm
- Pháp
luật hiện hành đang quy định xử lý về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và tội
danh này chủ yếu hướng tới đối tượng tàng trữ để sử dụng trái phép chất ma túy.
Có nghĩa là, một người sau khi mua chất ma túy để sử dụng, nếu chưa kịp sử dụng
mà bị phát hiện thì có thể bị xử lý hình sự về hành vi tàng trữ trái phép chất
ma túy, còn nếu đang hoặc đã sử dụng thì lại không bị xử lý về hành vi tương ứng.
- Thực
tế công tác cai nghiện ma túy cho thấy, nhiều người đang trong quá trình cai
nghiện hoặc ngay sau khi kết thúc quá trình cai nghiện vẫn tiếp tục sử dụng
trái phép chất ma túy nhưng chưa có biện pháp hoặc chế tài để giải quyết đối với
những trường hợp này.
Các yếu
tố cấu thành cơ bản của Tội sử dụng trái phép chất ma túy:
- Về
chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội phạm này là cá nhân có đủ
năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo luật định, theo đó, người này
phải là là người có đủ khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của
mình trong khi thực hiện hành vi phạm tội; về độ tuổi, cá nhân từ đủ 16 tuổi trở
lên phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.
Bên cạnh
yếu tố về năng lực trách nhiệm hình sự và độ tuổi, chủ thể của Tội sử dụng trái
phép chất ma túy còn phải có các điều kiện sau:
+ Trường
hợp tại điểm a khoản 1 Điều 256a: Nếu một người sử dụng trái phép chất ma túy bị
phát hiện lần đầu, họ sẽ bị cơ quan có thẩm quyền ra Quyết định quản lý người sử
dụng trái phép chất ma túy trong vòng 01 năm. Trong 01 năm đó, nếu phát hiện
người này tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy thì xác định tình trạng nghiện
và đưa họ vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (tối đa 24 tháng) hoặc cho phép họ cai
nghiện tự nguyện (tối đa 12 tháng) hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng
thuốc thay thế. Nếu trong thời hạn cai nghiện hoặc trong thời gian điều trị
nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống
ma túy mà phát hiện người đó tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy thì xử lý
hình sự;
+ Trường
hợp tại điểm b khoản 1 Điều 256a: Sau thời hạn cai nghiện ma túy, cơ quan có thẩm
quyền sẽ ra quyết định để quản lý sau cai đối với những người này, thời hạn quản
lý sau cai đối với người đã cai nghiện ma túy tự nguyện là 01 năm và thời hạn
quản lý sau cai đối với người đã cai nghiện bắt buộc là 02 năm. Nếu trong thời
hạn quản lý sau cai nghiện ma túy này, người đó bị phát hiện tiếp tục sử dụng
trái phép chất ma túy thì bị xử lý hình sự;
+ Trường
hợp tại điểm c khoản 1 Điều 256a: Sau khi hết thời hạn quản lý sau cai (01 năm
đối với người cai nghiện ma túy tự nguyện; 02 năm đối với người cai nghiện ma
túy bắt buộc) và trong 02 năm tiếp theo, nếu phát hiện một người sử dụng trái
phép chất ma túy thì cơ quan có thẩm quyền ra quyết định quản lý người sử dụng
trái phép chất ma túy (01 năm) đối với người đó, nếu trong thời hạn quản lý
này, phát hiện người đó tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy thì xử đặc biệt
nghiêm trọng chiếm tỉ lệ 5,3% trên tổng số tội phạm được phát hiện. Đặc biệt tội
phạm giết người do người nghiện chất ma túy và người sử dụng trái phép chất ma
túy gây ra trong thời gian này là khoảng trên 200 vụ (trong đó có khoảng trên
40 trường hợp giết người mà nạn nhân là người thân trong gia đình). 3 lý hình sự;
+ Trường
hợp tại điểm d khoản 1 Điều 256a: Nếu một người được cai nghiện ma túy tự nguyện
hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật
Phòng, chống ma túy mà tự ý chấm dứt việc cai nghiện hoặc điều trị, thì đang
trong thời hạn 02 năm kể từ khi tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc
chấm dứt việc điều trị, nếu họ bị phát hiện sử dụng trái phép chất ma túy thì sẽ
bị xử lý hình sự. Như vậy, việc xử lý hình sự đối với một người sử dụng trái
phép chất ma túy chỉ đặt ra khi người này đã và đang được áp dụng các biện pháp
cai nghiện nhưng bị phát hiện tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy.
- Về
khách thể của tội phạm: Khách thể của Tội sử dụng trái phép chất
ma túy là các mối quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ, cụ thể là: sức
khỏe, tính mạng và sự an toàn của con người; chế độ thống nhất quản lý các chất
ma túy của Nhà nước. Do đặc tính dược lý của ma túy là loại độc dược gây nghiện
nên Nhà nước xác lập chế độ thống nhất quản lý, theo đó, Nhà nước nghiêm cấm hoạt
động sản xuất, mua bán, tàng trữ, sử dụng… các chất ma túy cũng như các dạng tiền
chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy. Ngoài việc xâm phạm chế độ
thống nhất quản lý chất ma túy, Tội sử dụng trái phép chất ma túy còn trực tiếp
xâm hại đến sức khỏe, tính mạng của người sử dụng; xâm phạm đến sự phát triển
bình thường của giống nòi dân tộc; xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội, vì
nghiện mà túy là một trong những nguyên nhân trực tiếp gây ra các loại tội phạm
khác như trộm cắp tài sản, cướp tài sản… để có tiền sử dụng ma túy, hoặc trong
trường hợp người nghiện bị “ngáo đá”, ảo giác có thể gây ra các tội đặc biệt
nghiêm trọng như hiếp dâm, giết người…
- Về mặt
khách quan: Mặt khách quan của tội này bao gồm hành vi
khách quan, hậu quả do hành vi khách quan đó gây ra. Hành vi khách quan của Tội
sử dụng trái phép chất ma túy là tương đối đa dạng, có thể là hút, hít, chính,
uống, ăn… Người sử dụng trái phép chất ma túy thường thực hiện hành vi một cách
lén lút để che dấu hành vi, địa điểm sử dụng thường là những nơi kín đáo hoặc
những nơi mà “con nghiện” thường tập trung để sử dụng chất ma túy như vũ trường,
quán bar…
-Về
hậu quả: (1) Về mặt xã hội, ma túy là nguyên nhân gây ra nhiều loại tội
phạm, trực tiếp gây ra các các nguy cơ về an ninh, trật tự, an toàn xã hội, gây
băng hoại và phá vỡ các nền tảng đạo đức xã hội; vấn nạn ma túy làm giảm chất
lượng nguồn lao động, giảm chất lượng giống nòi, là nguyên nhân chính làm lây
nhiễm HIV/AIDS; ảnh hưởng nghiêm trọng đến phát triển kinh tế, xã hội của đất
nước. (2) Về mặt cá nhân, chất ma túy khi được đưa vào cơ thể sẽ gây ra tình trạng
nhiễm độc làm người sử dụng rơi vào trạng thái lú lẫn tâm trí, gây ra ảo giác,
loạn thần, gây tổn thương hệ thống thần kinh trung ương. Sử dụng ma túy lâu dài
sẽ khiến người nghiện ma túy hoàn toàn lệ thuộc vào nó, ảnh hưởng trực tiếp đến
đời sống, sinh hoạt và lao động hằng ngày, gây tốn kém, hao tổn tiền bạc và trực
tiếp ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình.
- Về mặt
chủ quan: Mặt chủ quan của tội này bao gồm yếu tố lỗi, động cơ, mục
đích phạm tội. Về yếu tố lỗi, lỗi của Tội sử dụng trái phép chất ma túy là lỗi
cố ý trực tiếp, người thực hiện hành vi biết rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm,
gây nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi. Về động cơ, mục
đích, người sử dụng trái phép chất ma túy có động cơ, mục đích trực tiếp là thỏa
mãn nhu cầu “không lành mạnh” của bản thân, khi lên cơn nghiện, người nghiện mà
túy sẽ tìm mọi cách để thỏa mãn nhu cầu ấy.
2. Thu
hẹp hình phạt tử hình
Bỏ
hình phạt tử hình đối với 08 tội danh: Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền
nhân dân (Điều 109); Tội gián điệp (Điều 110); Tội phá hoại cơ sở vật chất - kỹ
thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 114); Tội sản xuất,
buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 194); Tội vận chuyển
trái phép chất ma tuý (Điều 250); Tội tham ô tài sản (Điều 353); Tội nhận hối lộ
(Điều 354); Tội phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược (Điều 421).
Căn cứ
đề xuất bỏ hình phạt tử hình trong 08 tội danh
- Căn
cứ chung:
+ Thể
chế hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng về thu hẹp hình phạt tử hình tại Nghị
quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư
pháp đến năm 2020; chỉ đạo của Bộ Chính trị trên cơ sở Đề án liên quan đến tử
hình mà Viện kiểm sát nhân dân tối cao trình, Bộ Chính trị đã cơ bản thống nhất
với giải pháp trong Đề án, trong đó, có thu hẹp các tội danh còn hình phạt tử
hình trong Bộ luật Hình sự.
+ Theo
định hướng tiến tới xóa bỏ hình phạt tử hình: từ Bộ luật Hình sự năm 1985 có 44
tội có hình phạt tử hình, đến Bộ luật Hình sự năm 1999 còn 29 tội có hình phạt
tử hình, Bộ luật Hình sự sửa đổi năm 2009 còn 22 tội có hình phạt tử hình, đến
Bộ luật Hình sự năm 2015 chỉ còn 18 tội có hình phạt tử hình. Luật lần này được
thông qua, chỉ còn 10 tội danh còn hình phạt tử hình.
+ Đáp ứng
yêu cầu hội nhập quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự: (1) Xu hướng của các
nước trên thế giới là tiếp tục thu hẹp hình phạt tử hình và hạn chế áp dụng
hình phạt tử hình, tiến tới không áp dụng hình phạt tử hình. Trên thế giới hiện
nay có 104 quốc gia đã xóa bỏ hình phạt tử hình, có 28 quốc gia tuy pháp luật
còn quy định nhưng trên thực tế không còn áp dụng, 08 quốc gia đã xóa bỏ hình
phạt tử hình trên thực tế nhưng sẽ áp dụng trong một vài trường hợp bất khả
kháng (như tội phạm chiến tranh). Còn 55 quốc gia vẫn duy trì hình phạt tử hình
và thi hành án tử hình trong đó có Việt Nam.
(2) Điều
6 Công ước của Liên hợp Quốc về quyền dân sự và chính trị, tuy không cấm các quốc
gia áp dụng hình phạt tử hình nhưng chỉ áp dụng đối với các tội ác nghiêm trọng
nhất, với tình hình kinh tế, xã hội như hiện tại chưa cho phép Việt Nam xóa bỏ
hoàn toàn hình phạt tử hình, do đó, Luật giữ lại hình phạt tử hình đối với các
tội có tính chất tàn ác, xâm hại trực tiếp đến tính mạng con người, làm 5 ảnh
hưởng đến sự phát triển của giống nòi, điều này phù hợp với quy định của Công ước
của Liên hợp Quốc về quyền dân sự và chính trị; đồng thời, thể hiện trách nhiệm,
thực hiện nghĩa vụ của Việt Nam với tư cách là thành viên tham gia cơ bản các
điều ước quốc tế về nhân quyền.
(3)
Quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa,
xã hội, việc sửa đổi hệ thống pháp luật mang tính tương đồng với các quốc gia
trên thế giới góp phần thúc đẩy các quan hệ hợp tác ngày càng bên chặt và tin
tưởng lẫn nhau.
- Căn
cứ cụ thể:
+ Về tội
hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, tội gián điệp, tội phá hoại cơ sở vật
chất – kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam, việc bỏ hình phạt
tử hình đối với tội này vì các lý do sau đây: Thứ nhất, thời gian
qua, cơ quan chức năng chưa áp dụng hình phạt tử hình đối với các tội phạm này;
Thứ
hai, so sánh với các tội tại Chương Tội phạm xâm phạm an ninh
quốc gia như Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân, Tội bạo loạn thì tội
danh này không trực tiếp đe dọa đến tính mạng của con người, do đó, không cần
thiết phải áp dụng hình phạt tử hình.
+ Về Tội
sản xuất, buôn bán hàng giả, thuốc chữa bệnh và thuốc phòng bệnh, việc bỏ hình
phạt tử hình đối với tội này vì các lý do sau đây: Thực tiễn chưa có trường hợp
nào bị tuyên án tử hình về tội danh này. Bên cạnh đó, cơ chế bảo vệ người tiêu
dùng chưa tạo ra hành lang hữu hiệu giúp người tiêu dùng nhận biết hàng giả,
hàng thật cũng là lỗ hổng tạo điều kiện cho tội phạm này được thực hiện trên thực
tế. Bởi vậy, thay vì áp dụng hình phạt tử hình để răn đe người phạm tội thì cần
có các biện pháp khác để phòng ngừa như tăng cường quản lý nghiêm ngặt, tránh
tình trạng do sự yếu kém, không quản lý được thì cấm hoặc phạt thật nặng.
2 Số
liệu thống kê từ 01/01/2018 đến ngày 31/5/2024 trong Đề án liên quan đến tử
hình Viện kiểm sát nhân dân tối cao trình Bộ Chính trị.
+ Về Tội
vận chuyển trái phép chất ma túy, việc bỏ hình phạt tử hình đối
với tội này vì các lý do sau đây:
Thứ nhất, thực
tiễn cho thấy, đây là tội danh có tỉ lệ áp dụng hình phạt tử hình cao thứ hai
trong các tội danh còn hình phạt tử hình trong Bộ luật Hình sự hiện hành (chiếm
26,36% trên tổng số vụ xử tử hình) 2 , do vậy, bỏ hình phạt tử hình đối với tội
này sẽ góp phần thiết thực vào việc hạn chế áp dụng hình phạt tử hình trong xét
xử các vụ án hình sự, đồng thời, làm giảm đáng kể số lượng người đã bị kết án tử
hình về tội này đang chờ thi hành án, đáp ứng yêu cầu về thu hẹp hình phạt tử
hình trong chính sách hình sự.
Thứ
hai, so sánh tương quan với tội mua bán trái phép chất ma túy
và tội sản xuất trái phép chất ma túy (các tội vẫn duy trì hình phạt tử hình)
thì tội vận chuyển trái phép chất ma túy có tính chất trung gian, ít nguy hiểm
hơn với hành vi mua bán, sản xuất.
Thứ
ba, thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma túy thấy rằng,
rất nhiều trường hợp người vận chuyển trái phép chất ma túy là người dân tộc
thiểu số, có hoàn cảnh khó khăn, trình độ hiểu biết pháp luật thấp, hưởng lợi với
số tiền ít. Trong rất nhiều trường hợp, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các tình tiết
giảm nhẹ nhưng với khối lượng ma túy vận chuyển rất lớn và đủ yếu tố cấu thành
theo quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành nên những người này vẫn bị kết án tử
hình, có những gia đình cả bố, con đều bị kết án tử hình, có những bản làng có
đến hàng trăm người bị kết án tử hình gây những hệ lụy khôn lường về mặt kinh tế,
xã hội, để lại hậu quả nặng nề cho các thế hệ sau của họ3
. Thứ
tư, hiện nay, theo quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành thì một người
nếu vận chuyển trái phép chất ma túy nhằm mục đích mua bán hoặc mục đích sản xuất
trái phép chất ma túy, theo quy định của pháp luật sẽ bị xử lý về tội mua bán
trái phép chất ma túy hoặc sản xuất trái phép chất ma túy và 02 tội danh này
theo quy định của Bộ luật Hình sự thì đều có khung hình phạt cao nhất là tử
hình.
Thứ
năm, hiện nay, nhiều nước trên thế giới đã yêu cầu Việt Nam phải
cam kết không áp dụng hình phạt tử hình hoặc tuyên nhưng không thi hành án tử
hình đối với những vụ án về ma túy, nhưng đến nay, Việt Nam chưa cam kết nên
khi Việt Nam yêu cầu tương trợ tư pháp có liên quan đến án tử hình thì gần như
không có phản hồi.
3 Theo
thống kê, từ ngày 01/01/2018 đến ngày 31/5/2025, cả nước có khoảng hơn 2.000 vụ
vận chuyển trái phép chất ma túy với khoảng gần hơn 5.000 bị can, bị cáo bị khởi
tố, trong đó, số bị can, bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều
kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn khoảng hơn 1.500 người (chiếm khoảng 30%
trên tổng số bị can, bị cáo bị khởi tố về tội này); số người bị kết án tử hình
vì tội vận chuyển trái phép chất ma túy trên cả nước là gần 1.000 bị cáo, trong
đó, số lượng người bị kết án tử hình là người đồng bào dân tộc thiểu số, vùng
có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn khoảng hơn 300 bị cáo (chiếm hơn
30% tổng số bị cáo bị tử hình về tội này)
+ Về Tội
tham ô tài sản (Điều 353), Tội nhận hối lộ, việc bỏ hình phạt tử
hình đối với tội này vì các lý do sau đây:
Thứ nhất, thực
tiễn cho thấy, tội danh này đã được đa số các nước trên thế giới không quy định
hình phạt tử hình hoặc đang có xu hướng bỏ hình phạt tử hình;
Thứ
hai, nhiều nước trên thế giới đã yêu cầu Việt Nam phải cam kết
không áp dụng hình phạt tử hình hoặc tuyên nhưng không thi hành án tử hình đối
với những vụ án về tham nhũng, chức vụ, nhưng Việt Nam chưa cam kết nên khi Việt
Nam yêu cầu tương trợ tư pháp có liên quan đến án tử hình thì gần như không có
phản hồi.
Thứ
ba, những tội này không phải là “tội ác”, không xâm phạm đến
tính mạng con người, không xâm phạm trực tiếp đến chủ thể đặc biệt là an ninh
quốc gia, do vậy, không cần thiết phải tước bỏ mạng sống của họ. Thứ tư,
để đảm bảo hiệu quả thu hồi tài sản, đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa; đồng thời
khuyến khích người phạm tội hợp tác với cơ quan chức năng, Luật đã bổ sung quy
định “Người bị kết án tù chung thân về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ chỉ có thể được xét giảm thời hạn
chấp hành hình phạt khi đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô,
nhận hối lộ và đã hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện,
điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn”.
+ Về Tội
phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược, việc bỏ hình phạt tử
hình đối với tội này vì các lý do sau đây:
Thứ nhất, nhằm
quy định phù hợp với Quy chế Rome về Tòa án hình sự quốc tế mà Việt Nam đã tham
gia ký kết, theo đó, mức hình phạt cao nhất đối với 04 tội ác quốc tế chỉ dừng
lại ở mức tù chung thân hoặc phạt tù có thời hạn cao nhất là 30 năm tù;
Thứ
hai, khả năng xảy ra tội phạm này ở Việt Nam rất thấp, xuất
phát từ truyền thống tốt đẹp, xuất phát từ khả năng phòng ngừa của các cơ quan
chức năng và xuất phát từ quan điểm đối ngoại xuyên suốt của Đảng ta đó là hòa
bình, hợp tác, cùng phát triển, lấy đối thoại thay đối đầu. Thực tiễn chưa có tội
phạm nào được thực hiện từ trước đến nay.
3.
Nâng gấp 02 lần hình phạt tiền đối với 24 tội danh
Việc
nâng mức hình phạt tập trung vào nhóm tội về hàng giả, môi trường, an toàn thực
phẩm, tham nhũng, cụ thể tại các điều 192, 193, 194, 195, 235, 236, 237, 238,
239, 240, 241, 242, 243, 244, 245, 246, 317, 353, 354, 355, 356, 357, 358 và
359. Thực tiễn phòng ngừa và đấu tranh với các loại tội phạm hàng giả, môi trường,
an toàn thực phẩm, tham nhũng cho thấy, đây là những loại tội phạm thu lợi nhuận
bất chính rất lớn từ hành vi phạm tội, tuy nhiên, hiện nay, mức phạt tiền đối với
tội này là tương đối thấp, chưa thực sự tương xứng với tính chất của tội phạm,
chưa bảo đảm tính răn đe cần thiết, nhiều đối tượng sẵn sàng thực hiện hành vi
phạm tội để thu được lợi nhuận, dẫn đến tình trạng “nhờn luật”. Do đó, Luật đã
nâng gấp đôi mức hình phạt tiền đối với các tội này, việc nâng mức phạt tiền
này phù hợp với đối tượng phạm tội và dựa trên tình hình phát triển kinh tế, xã
hội, có tính đến các yếu tố biến động của giá cả, thu nhập bình quân đầu người
(có tham chiếu mức lương cơ sở tăng 2,04 lần, thu nhập bình quân đầu người tăng
2,02 lần) tại thời điểm năm 2015 với thời điểm hiện tại.
4.
Tăng mức phạt tù tại 08 điều luật trong Bộ luật Hình sự hiện hành
Luật
đã nâng mức phạt tù ở nhóm tội về môi trường, ma túy, an toàn thực phẩm, cụ thể
là: Các điều 235, 236, 248, 249, 250, 251, 255 và 317, cụ thể như sau:
- Tội
gây ô nhiễm môi trường (Điều 235): Tăng mức hình phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm
thành từ 02 năm đến 03 năm tại khoản 1; tăng mức hình phạt khởi điểm từ 01 năm
thành 03 năm tại khoản 2; tăng mức hình phạt khởi điểm từ 03 năm thành 05 năm tại
khoản 3;
- Tội
vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại (Điều 236): Tăng mức hình phạt
tù từ 03 tháng đến 02 năm thành từ 02 năm đến 03 năm tại khoản 1; tăng mức hình
phạt khởi điểm từ 02 năm thành 03 năm tại khoản 2.
- Tội
sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 248): Tăng mức khởi điểm hình phạt tù tại
khoản 1 từ 02 năm thành 03 năm.
- Tội
tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 249): Tăng mức khởi điểm hình phạt tù tại
khoản 1 từ 01 năm thành 03 năm.
- Tội
vận chuyển trái phép chất ma túy (Điều 250) Tăng mức khởi điểm hình phạt tù tại
khoản 1 từ 02 năm thành 03 năm.
- Tội
mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251) Tăng mức khởi điểm hình phạt tù tại
khoản 1 từ 02 năm thành 03 năm.
- Tội
tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 255): Tăng mức khởi điểm hình phạt
tù tại khoản 1 từ 02 năm thành 03 năm.
- Tội
vi phạm quy định về an toàn thực phẩm (Điều 317): Tăng mức khởi điểm hình phạt
tù tại khoản 1 từ 01 năm thành 02 năm. Căn cứ nâng mức phạt tù: Thực tiễn cho
thấy, thời gian gần đây, tội phạm về môi trường, ma túy, an toàn thực phẩm có
nhiều diễn biến phức tạp, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân, gây nhiều hệ lụy
xấu về an ninh, trật tự, tác động trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng của người
dân và ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế, ảnh hưởng đến chất lượng giống nòi, ảnh
hưởng đến hình ảnh, uy tín của đất nước. Tuy nhiên, mức hình phạt khởi điểm của
các tội này là tương đối thấp, cụ thể là: Tội gây ô nhiễm môi trường (Điều
235), Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại (Điều 236) có mức phạt
tù khởi điểm chỉ là 03 tháng; Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 249) có
mức phạt tù khởi điểm chỉ là 01 năm; Tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều
248), Tội vận chuyển trái phép chất ma túy (Điều 250), Tội mua bán trái phép chất
ma túy (Điều 251), Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 255) có mức
phạt tù khởi điểm chỉ là 02 năm; Tội vi phạm quy định về an toàn thực phẩm (Điều
317) có mức phạt tù khởi điểm chỉ là 01 năm không bảo đảm tính răn đe, phòng ngừa,
nên cần thiết phải tăng mức hình phạt tù để xử lý nghiêm người phạm tội.
5. Hạ
mức thông số môi trường nguy hại vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường
tại Điều 235 (Tội gây ô nhiễm môi trường)
Các mức
thông số môi trường nguy hại vượt quy chuẩn quốc gia được hạ lần lượt từ 10 lần
xuống 05 lần; 05 lần xuống 03 lần; 03 lần xuống 02 lần. Căn cứ hạ mức thông số
môi trường nguy hại vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường Thực tiễn đấu
tranh với tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật về gây ô nhiễm môi trường
thấy rằng, hiện nay, mức định lượng dùng làm căn cứ định khung hình phạt là mức
thông số môi trường nguy hại vượt quy chuẩn quốc gia quy định tại Điều này đang
quá cao, dẫn đến rất khó áp dụng để xử lý hình sự, do đó, đa số các hành vi vi
phạm mặc dù gây hậu quả rất nghiêm trọng nhưng chỉ bị xử lý hành chính, do đó,
cần thiết phải hạ mức này xuống để đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa, góp phần tạo
lập môi trường sinh thái an toàn, lành mạnh.
6. Bổ
sung quy định trường hợp không thi hành án tử hình (Điều 40)
Tại Điều
40 của Bộ luật Hình sự, Luật đã bổ sung quy định về không thi hành án tử hình đối
với người mắc bệnh ung thư giai đoạn cuối, vì: (1) bản thân người bị kết án đã
không còn khả năng có thể gây nguy hiểm cho xã hội; (2) để đảm bảo tính nhân đạo;
(3) để tránh lãng phí nguồn lực. Bên cạnh đó, Luật cũng đã bỏ quy định về không
thi hành án tử hình đối với người bị kết án về tội tham ô tài sản, nhận hối lộ
tại Điều 40 của Bộ luật Hình sự vì đã bỏ hình phạt tử hình đối với 02 tội danh
nêu trên.
7. Sửa
đổi, bổ sung quy định tại Điều 49
- Tại
Điều 49 của Bộ luật Hình sự, Luật đã thay cụm từ “cơ sở điều trị chuyên khoa” bằng
cụm từ “cơ sở khám bệnh, chữa bệnh”, để đảm bảo sự linh hoạt trong bố trí cơ sở
khám, chữa bệnh cho người bị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh, đồng thời, đảm
bảo phù hợp với quy định của Luật Khám bệnh, chữa bệnh; đồng thời, Luật cũng bổ
sung quy định về “Sau khi có kết luận khỏi bệnh hoặc có kết luận đủ khả năng nhận
thức, đủ khả năng điều khiển hành vi, người đó có thể phải chịu trách nhiệm
hình sự” tại Điều 49 Bộ luật Hình sự để phù hợp với khả năng kết luận của các
cơ sở y tế hiện nay, vì trong nhiều trường hợp, không thể kết luận là khỏi bệnh,
đặc biệt là đối với các bệnh về tâm thần mà chỉ có thể kết luận có đủ khả năng
nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi. Đây là các đề xuất của Bộ Y tế nhằm
giải quyết các vướng mắc trong việc áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.
8. Bổ
sung quy định về giảm mức hình phạt đã tuyên đối với người bị kết án tù chung
thân về Tội tham ô tài sản và Tội nhận hối lộ (Điều 63) Tại
Điều 63 của Bộ luật Hình sự, Luật đã bổ sung quy định “Người bị kết án tù chung
thân về tội tham ô tài sản và tội nhận hối lộ chỉ có thể được xét giảm thời hạn
chấp hành hình phạt khi đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô,
nhận hối lộ và đã hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện,
điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn”. Mặc dù Luật đã bỏ hình phạt tử
hình đối với Tội tham ô tài sản và Tội nhận hối lộ, tuy nhiên, đây vẫn là những
tội phạm đặc biệt nguy hiểm đối với xã hội, gây bức xúc trong nhân dân, do đó,
để đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa, cần thiết phải quy định điều kiện chặt chẽ
để được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt. Người phạm tội nếu không đáp ứng
được các điều kiện đó thì sẽ bị cách li khỏi xã hội vĩnh viễn. Việc bổ sung quy
định này cũng nhằm bảo đảm người phạm tội tích cực khai báo trong quá trình giải
quyết vụ án và bảo đảm thu hồi tài sản tham ô, nhận hối lộ mà có.
9. Bổ sung các chất ma túy Ketamine và
Fentanyl trong cấu thành của một số tội phạm về ma túy
Bổ
sung các chất ma túy Ketamine và Fentanyl trong cấu thành 05 tội phạm về ma túy
gồm các điều 248, 249, 250, 251, 252. Về mặt thực tiễn, đây là các loại ma túy
có tính chất, mức độ nguy hiểm tương đương với Heroine, Cocaine,
Methamphetamine, Amphetamine, DMA hoặc XLR-11, nên cần thiết phải được 10 quy định
cùng điểm với các loại ma túy này trong cùng một khoản, tránh xử lý các hành vi
liên quan đến Ketamine, Fentanyl tương đương với xử lý các hành vi liên quan đến
các chất ma túy khác ở thể rắn (có định lượng cấu thành tội phạm cao hơn) làm
giảm tính răn đe. Bên cạnh đó, hiện nay, các chất ma túy Ketamine, Fentanyl đã
được quy định tại nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định
danh mục các chất ma túy và tiền chất,
10.
Tách khung hình phạt “phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình” thành 02
khung hình phạt “20 năm hoặc chung thân” và “chung thân hoặc tử hình” tại Tội sản
xuất trái phép chất ma túy (Điều 248) và Tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều
251)
trên cơ sở thay đổi các mức định lượng để phù hợp với việc tách khung hình phạt.
Thực tiễn cho thấy, đây là các tội có tỉ lệ người bị xử tử hình cao nhất trong
các tội còn hình phạt tử hình của Bộ luật Hình sự. Do đó, cần phải bổ sung thêm
01 khoản tại các điều này để nới rộng khoảng cách giữa khung hình phạt tù chung
thân và tử hình tại các điều luật, mức định lượng để định khung hình phạt tử
hình sẽ được đẩy lên cao hơn, qua đó giảm thiểu việc áp dụng hình phạt tử hình
trên thực tế.
11. Điều
khoản thi hành
Thứ nhất,
hướng dẫn về việc áp dụng pháp luật theo hướng có lợi cho người phạm tội:
- Theo điểm b Khoản 1 Điều 4, các quy định của
Luật này nếu có lợi cho người phạm tội gồm: bỏ hình phạt tử hình ở 08 tội danh
trong Bộ luật Hình sự; không thi hành án tử hình đối với người đang mắc bệnh
ung thư giai đoạn cuối; nâng mức định lượng chất ma túy làm căn cứ để định
khung hình phạt chung thân hoặc tử hình tại khoản 5 Điều 248 và khoản 5 Điều
251 và các tình tiết có lợi khác thì được áp dụng đối với cả những hành vi phạm
tội xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 7 năm 2025 mà sau thời điểm đó mới
bị phát hiện hoặc đang bị điều tra, truy tố, xét xử;
- Theo
điểm c khoản 1 Điều 4, các quy định của Luật này nếu không có lợi cho người phạm
tội gồm: nâng mức phạt tù; nâng mức phạt tiền; hạ mức thông số môi trường nguy
hại vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường tại Điều 235 (Tội gây ô nhiễm
môi trường); quy định về điều kiện để được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt
đối với người bị kết án tù chung thân về Tội tham ô tài sản và Tội nhận hối lộ;
bổ sung các chất ma túy Ketamine và Fentanyl trong cấu thành của 05 tội danh về
ma túy và các tình tiết tăng nặng khác thì không áp dụng đối với những hành vi
xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 7 năm 2025 mà sau thời điểm đó mới
phát hiện hoặc đang bị điều tra, truy tố, xét xử hoặc đối với người đang được
xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xóa án tích; trong trường hợp này, áp dụng
quy định tương ứng của các văn bản quy phạm pháp luật về hình sự có hiệu lực
trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 7 năm 2025 để giải quyết, trừ trường hợp người
phạm tội về các tội quy định tại Điều 353 (Tội tham ô tài sản) và Điều 354 (Tội
nhận hối lộ) của Bộ luật Hình sự mà theo quy định của Luật này (bỏ hình phạt tử
hình đối với các tội này) được chuyển thành tù chung thân thì vẫn áp dụng quy định
về việc chỉ được xem xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt khi đáp ứng được các
tiêu chí đã chủ 11 động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ
và đã hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử
lý tội phạm hoặc lập công lớn;
- Quy
định tại điểm d khoản 1 Điều 4 quy định về việc áp dụng Luật này khi kháng nghị
giám đốc thẩm, theo đó, đối với những hành vi phạm tội đã có bản án, quyết định
của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 7 năm
2025 thì không căn cứ vào những quy định của Luật này có nội dung khác so với
các điều luật đã được áp dụng khi tuyên án để kháng nghị giám đốc thẩm; trường
hợp kháng nghị dựa vào căn cứ khác hoặc đã kháng nghị trước ngày 01 tháng 7 năm
2025 thì việc xét xử giám đốc thẩm được áp dụng quy định theo hướng có lợi cho
người phạm tội như đã phân tích tại quy định về điểm b và điểm c khoản 1 Điều
này. Thứ hai, hướng dẫn xử lý tình huống phát sinh đối với người đã bị tuyên án
tử hình trước ngày 01 tháng 7 năm 2025 nhưng chưa thi hành:
- Khoản
2 Điều 4 quy định, hình phạt tử hình đã tuyên trước ngày 01 tháng 7 năm 2025 đối
với người phạm tội về các tội đã bỏ hình phạt tử hình quy định tại các điều
109, 110, 114, 194, 250, 353, 354 và 421 của Bộ luật Hình sự hoặc thuộc trường
hợp không thi hành án tử hình vì bị ung thư giai đoạn cuối quy định tại điểm c
khoản 3 Điều 40 của Bộ luật Hình sự mà chưa thi hành án thì không thi hành và
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định chuyển hình phạt tử hình thành tù
chung thân.
- Khoản
3 Điều 4 hướng dẫn xử lý trường hợp người bị kết án tử hình trước ngày 01 tháng
7 năm 2025 về các tội: Tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 248) và Tội mua
bán trái phép chất ma túy (Điều 251) của Bộ luật Hình sự, nhưng theo quy định của
Luật này, mức định lượng chất ma túy dùng để định khung hình phạt chung thân hoặc
tử hình đã có sự thay đổi do Luật đã bổ sung thêm khoản 5 có khung hình phạt là
chung thân hoặc tử hình với mức định lượng lớn hơn mức định lượng tại khoản 4
các điều này của Bộ luật Hình sự, trong trường hợp này giải quyết như sau:
+ Hình
phạt tử hình đã tuyên trước ngày 01 tháng 7 năm 2025 đối với người phạm tội sản
xuất trái phép chất ma túy (Điều 248) và Tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều
251) của Bộ luật Hình sự mà khối lượng, thể tích chất ma túy được xác định
trong bản án để quyết định hình phạt tử hình đối với họ bằng hoặc thấp hơn khối
lượng, thể tích chất ma túy thấp nhất quy định tại khoản 5 Điều 248 hoặc khoản
5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự mà chưa thi hành án thì không thi hành và Chánh
án Tòa án nhân dân tối cao quyết định chuyển hình phạt tử hình thành tù chung
thân;
+ Hình
phạt tử hình đã tuyên trước ngày 01 tháng 7 năm 2025 đối với người phạm tội sản
xuất trái phép chất ma túy (Điều 248) và Tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều
251) của Bộ luật Hình sự mà khối lượng, thể tích chất ma túy được xác định
trong bản án để quyết định hình phạt tử hình đối với họ lớn hơn khối lượng, thể
tích chất ma túy thấp nhất quy định tại khoản 5 Điều 248 hoặc khoản 5 Điều 251
của Bộ luật Hình sự được sửa đổi, bổ sung tại khoản 18 Điều 1 của Luật nhưng
người phạm tội không phải là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy hoặc không có 02
tình 12 tiết tăng nặng trở lên mà chưa thi hành án thì không thi hành và Chánh
án Tòa án nhân dân tối cao quyết định chuyển hình phạt tử hình thành tù chung
thân.
Ví dụ
1: Nguyễn Văn A bị Tòa án nhân dân tỉnh B tuyên tử hình về hành vi mua bán trái
phép chất ma túy vào ngày 01/6/2025 và đến ngày 01/7/2025 vẫn chưa thi hành án;
khối lượng chất ma túy dùng để quyết định hình phạt đối với Nguyễn Văn A là 03
kilôgam heroin, bằng với khối lượng chất ma túy thấp nhất quy định tại điểm b
khoản 5 Điều 251(03 kilôgam heroin), do đó, theo quy định của Luật này thì
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ra Quyết định chuyển hình phạt tử hình thành
tù chung thân đối với Nguyễn Văn A. Ví dụ 2: Nguyễn Văn B bị Tòa án nhân dân tỉnh
C tuyên tử hình về hành vi mua bán trái phép chất ma túy vào ngày 01/6/2025 và
đến ngày 01/7/2025 vẫn chưa thi hành án; khối lượng chất ma túy dùng để quyết định
hình phạt đối với Nguyễn Văn B là 3,5 kilôgam heroin, lớn hơn khối lượng chất
ma túy thấp nhất quy định tại điểm b khoản 5 Điều 251 (03 kilôgam heroin), tuy
nhiên, trong vụ án này, Nguyễn Văn B phạm tội lần đầu, không có tình tiết tăng
nặng, đồng thời, trong vụ án, Nguyễn Văn B không phải là người chủ mưu, cầm đầu,
do đó, theo quy định của Luật này thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ra Quyết
định chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân đối với Nguyễn Văn B. Thứ ba,
hướng dẫn xử lý tình huống phát sinh khi thi hành án tù chung thân đối với người
phạm tội tham ô tài sản và tội nhận hối lộ
- Quy
định tại khoản 4 Điều 4: Luật đã bỏ hình phạt tử hình đối với Tội tham ô tài sản
(Điều 353) và Tội nhận hối lộ (Điều 354), tuy nhiên, để đảm bảo tính răn đe,
phòng ngừa đối với loại tội phạm này, đồng thời, đảm bảo hiệu quả thu hồi tài sản
tham ô, nhận hối lộ, khoản 4 Điều 4 đã quy định theo hướng vẫn áp dụng quy định
về việc sau khi được giảm án từ tử hình xuống tù chung thân, những người này chỉ
có thể được giảm thời hạn chấp hành hình phạt khi đáp ứng được các tiêu chí: đã
chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và đã hợp tác
tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm
hoặc lập công lớn. Nếu không đáp ứng các tiêu chí này, người bị kết án tù chung
thân về Tội tham ô tài sản và Tội nhận hối lộ sẽ chấp hành án phạt tù vĩnh viễn.
- Quy định tại khoản 5 Điều 4: Để đảm bảo sự công bằng, tránh gây bất lợi đối với
người phạm tội tham ô tài sản, Tội nhận hối lộ, khoản 5 Điều 4 cũng quy định về
việc hình phạt tù chung thân đã tuyên trước ngày 01 tháng 7 năm 2025 thì không
cần phải có điều kiện “đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô,
nhận hối lộ và đã hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện,
điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn” khi xét giảm mức hình phạt đã tuyên
đối với người phạm tội. Thứ tư, về phân công trách nhiệm triển khai, thi hành
Luật này được quy định như sau: Xác định 02 nhiệm vụ quan trọng nhất phải thực
hiện sau khi Luật được thông qua đó là: (1) rà soát người bị kết án tử hình thuộc
diện được chuyển từ 13 hình phạt tử hình thành tù chung thân; (2) hoàn thiện hệ
thống pháp luật có liên quan đến những quy định mới của Luật, khoản 6 Điều 4 đã
giao Tòa án nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Bộ Công an, Bộ Quốc phòng,
Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các cơ quan có liên quan tổ chức việc rà soát
người bị kết án tử hình thuộc diện được chuyển từ hình phạt tử hình thành tù
chung thân để thực hiện theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này; giao
Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, trong phạm
vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, phối hợp tổ chức rà soát các văn bản
có liên quan để kịp thời hủy bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới hoặc đề nghị
Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội hủy bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới
văn bản quy phạm pháp luật cho phù hợp với quy định của Luật này. Hiện nay, Tòa
án nhân dân tối cao đã chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành có liên quan rà soát
người bị kết án tử hình thuộc diện được chuyển từ hình phạt tử hình thành tù
chung thân để thực hiện theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Bộ luật Hình sự.
II. BỘ
LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ (sửa đổi, bổ sung năm 2025)
Ngày
27/6/2025, tại kỳ họp thứ 9, khóa XV Quốc hội đã thông qua Luật số 99/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự. Luật này có hiệu lực
thi hành từ ngày 01/7/2025, gồm các nội dung sửa đổi sau:
1. Về
tổ chức và thẩm quyền của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân
- Sửa
đổi, bổ sung các quy định liên quan đến tinh gọn, sắp xếp lại bộ máy Cơ quan điều
tra từ mô hình 03 cấp (cấp bộ, cấp tỉnh và cấp huyện) chuyển thành 02 cấp (cấp
bộ và cấp tỉnh); bổ sung quy định4 Điều tra viên trung cấp, Điều tra
viên cao cấp là Trưởng Công an cấp xã hoặc Phó trưởng Công an cấp xã được phân
công tiến hành hoạt động khởi tố, điều tra vụ án về tội ít nghiêm trọng, nghiêm
trọng xảy ra trên địa bàn cấp xã có một số nhiệm vụ, quyền hạn như Thủ trưởng
Cơ quan điều tra trừ quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ, biện pháp điều tra tố
tụng đặc biệt.
- Mở rộng
thẩm quyền thực hiện nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, cụ thể: Chỉ
huy trưởng Phó Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy Bộ đội biên phòng; Chi cục trưởng,
Phó Chi cục trưởng Chi cục Hải quan khu vực; Chi cục trưởng, Phó Chi cục trưởng
Chi cục Kiểm lâm vùng; Đoàn trưởng, Phó Đoàn trưởng Đoàn trinh sát; Cục trưởng,
Phó Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư.
- Sửa
đổi, bổ sung các quy định5 liên quan đến tinh gọn, sắp xếp lại bộ máy Viện kiểm
sát nhân dân từ mô hình 04 cấp (tối cao, cấp cao, cấp tỉnh, cấp huyện) thành 03
cấp (tối cao, cấp tỉnh và khu vực), điều chỉnh nhiệm vụ, thẩm quyền của Viện kiểm
sát các cấp để phù hợp với mô hình của Cơ quan điều tra và Tòa án.
4 Tại
Điều 37 Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025) 5 Tại các điều 4,
20, 110, 113, 172, 173, 239, 341, 400, 476, 487, 503 của Bộ luật Tố tụng hình sự
(sửa đổi, bổ sung năm 2025)
- Bổ
sung thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm của Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân cấp tỉnh.
2. Về
thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án
Bộ luật
Tố tụng hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025) sửa đổi, bổ sung
thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự như sau:
- Tòa
án nhân dân khu vực xét xử sơ thẩm6 những vụ án hình sự về tội phạm ít nghiêm
trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt
nghiêm trọng mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật Hình sự quy định đến
20 năm tù.
- Tòa
án nhân dân cấp tỉnh xét xử sơ thẩm7 những vụ án:
(1) Vụ
án hình sự về các tội phạm không thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực;
(2) Vụ
án hình sự thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân khu vực nhưng có nhiều
tình tiết phức tạp, liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, dư luận xã hội đặc biệt
quan tâm; vụ án mà khi xử lý có ảnh hưởng đến chính trị, đối ngoại; vụ án mà
người phạm tội là cán bộ lãnh đạo chủ chốt từ cấp tỉnh trở lên, người có chức sắc
trong tôn giáo hoặc có uy tín cao trong dân tộc thiểu số.
- Thẩm
quyền xét xử của Tòa án quân sự được giữ nguyên.
3. Về
điều tra, truy tố, xét xử vắng mặt bị can, bị cáo
Sửa đổi,
bổ sung quy định liên quan đến điều tra, truy tố, xét xử vắng mặt theo hướng Cơ
quan điều tra có thể kết luận điều tra đề nghị truy tố bị can, Viện kiểm sát có
thể quyết định truy tố bị can, Tòa án có thể xét xử vắng mặt bị cáo khi đã có đủ
căn cứ và bảo đảm quyền bào chữa cho bị can, bị cáo theo quy định trong các trường
hợp sau: (1) Bị can, bị cáo bỏ trốn, không biết bị can, bị cáo ở đâu và việc
truy nã không có kết quả; (2) Bị can, bị cáo đang ở nước ngoài mà không thể triệu
tập để phục vụ các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử.
Ngày
01/7/2025, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án
nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư liên tịch số
05/2025/TTLTBCA-BQP-VKSNDTC-TANDTC quy định về phối hợp giữa các cơ quan tiến
hành tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử vắng mặt bị can, bị cáo.
4. Về
thủ tục xem xét bản án tử hình trước khi thi hành
Sửa đổi
Điều 367 của Bộ luật Tố tụng hình sự về thủ tục xem xét bản án tử hình trước
khi thi hành theo hướng trường hợp Chủ tịch nước không quyết định ân giảm thì hết
thời hạn 01 năm kể từ ngày nhận được ý kiến của Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao thì cơ quan có thẩm quyền thông
báo ngay về việc không có quyết định ân giảm của Chủ tịch nước để Chánh án Tòa
án đã xét xử sơ thẩm tổ chức việc thi hành bản án tử hình theo quy định.
6 Khoản
1 Điều 268 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2025
7 Khoản
2 Điều 268 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2025
5. Một
số quy định khác
- Bộ
luật Tố tụng hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025) điều chỉnh thẩm quyền từ Tòa
án nhân dân cấp tỉnh về Tòa án nhân dân khu vực đối với việc xét xử sơ thẩm vụ
án có yếu tố nước ngoài (khoản 2 Điều 268); thẩm quyền theo lãnh thổ đối với vụ
án mà bị cáo phạm tội ở nước ngoài (khoản 2 Điều 269); tạm đình chỉ chấp hành
hình phạt tù và áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh (Điều 452); xem xét yêu cầu
thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài đối với công dân Việt
Nam bị từ chối dẫn độ (Điều 501); bổ sung thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm,
tái thẩm của Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh (khoản 3 Điều 373),…
- Sửa
đổi, bổ sung các quy định khác có liên quan (quan hệ phối hợp, giao, gửi quyết
định, kết thúc hoạt động của đơn vị hành chính cấp huyện, không tổ chức Nhà tạm
giữ, Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, đổi tên Trung tâm trợ giúp
pháp lý nhà nước…) tại các điều 71, 75, 76, 111, 113, 114, 119, 120, 121 và 122
của Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
- Sửa đổi, bổ sung các quy định về chi phí tố tụng và việc miễn, giảm chi phí tố tụng; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong tố tụng; cơ chế ủy quyền trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử.
III. VỀ LUẬT THI HÀNH ÁN
HÌNH SỰ, LUẬT ĐẶC XÁ, LUẬT PHÒNG, CHỐNG MUA BÁN NGƯỜI
Ngày
25/6/2025, tại Kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật số 86/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự, trong đó có sửa một số quy định
tại Luật Thi hành án hình sự, Luật đặc xá, Luật mua bán người. Luật này có hiệu
lực từ ngày 01/7/2025. Các Luật này có một số nội dung sửa đổi, bổ sung cụ thể
như sau:
1. Đối
với Luật Thi hành án hình sự
Luật sửa
đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 86/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số quy định của Luật Thi hành án hình sự, cụ thể như sau:
1.1.
Bãi bỏ quy định về bản sao Quyết định của Chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm
hình phạt tử hình (nếu có) trong thành phần Hồ sơ thi hành án tử hình tại điểm
d khoản 1 Điều 80 và thay thế “Quyết định của Chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm
hình phạt tử hình” thành “văn bản thông báo của cơ quan có thẩm quyền về việc
không có quyết định ân giảm hình phạt tử hình” tại điểm c khoản 4 Điều 82 nhằm
quán triệt ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị về về hoàn thiện pháp luật hình sự,
tố tụng hình sự liên quan đến hình phạt tử hình, thi hành án tử hình (theo
thông báo tại Công văn số 13936-CV/VPTW ngày 25/3/2025 của Văn phòng Trung ương
Đảng) và thống nhất với quy định liên quan được sửa đổi trong Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự. 1.2. Các nội dung sửa đổi, bổ
sung khác trong Luật này nhằm bảo đảm phù hợp, thống nhất với cơ cấu, tổ chức bộ
máy của hệ thống chính trị, được quy định tại các văn bản luật khác như: Nghị
quyết số 203/2025/QH15 ngày 16/6/2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều
của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Luật Tổ chức chính quyền
địa phương (sửa đổi); Luật sửa đổi, 16 bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa
án nhân dân, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Viện kiểm sát
nhân dân:
1.3. Sửa
đổi một số quy định theo hướng tăng thẩm quyền cho Tòa án nhân dân khu vực để
phù hợp với tổ chức bộ máy, nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân sau khi sắp
xếp, tinh gọn theo chủ trương của Đảng, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Tổ chức Tòa án nhân dân. Theo đó, Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền:
(1) Xem xét, quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù; (2) Quyết định trưng
cầu giám định pháp y, pháp y tâm thần đối với phạm nhân; (3) Quyết định áp dụng
biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh đối với người đang chấp hành án phạt tù.
2. Đối
với Luật Đặc xá
Luật sửa
đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 86/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số quy định của Luật Đặc xá, cụ thể như sau:
2.1. Sửa
đổi bổ sung quy định về điều kiện xếp loại chấp hành án phạt tù của người được
đề nghị đặc xá theo hướng giao Chủ tịch nước quyết định cụ thể số kỳ được xếp
loại chấp hành án phạt tù khá hoặc tốt trong mỗi lần đặc xá tại điểm a khoản 1
Điều 11. Việc sửa đổi, bổ sung này nhằm thể chế hóa quyền Hiến định của Chủ tịch
nước và đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
2.2.
Các nội dung sửa đổi, bổ sung khác trong Luật này nhằm bảo đảm phù hợp, thống
nhất với cơ cấu, tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, được quy định tại các
văn bản luật khác như: Nghị quyết số 203/2025/QH15 ngày 16/6/2025 của Quốc hội
sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam; Luật Tổ chức chính quyền địa phương (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân; Luật Thi hành án hình sự; phù hợp với mô
hình tổ chức mới của Công an nhân dân khi không tổ chức Công an cấp huyện.
3. Đối
với Luật Phòng, chống mua bán người
Luật sửa
đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 86/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số quy định của Luật Phòng, chống mua bán người, cụ thể như sau: Các nội dung sửa
đổi, bổ sung trong Luật này nhằm bảo đảm phù hợp, thống nhất với cơ cấu, tổ chức
bộ máy của hệ thống chính trị, được quy định tại các văn bản luật khác như: Nghị
quyết số 203/2025/QH15 ngày 16/6/2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều
của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Luật Tổ chức chính quyền
địa phương (sửa đổi); Luật Tổ chức Chính phủ; phù hợp với mô hình tổ chức mới của
Công an nhân dân khi không tổ chức Công an cấp huyện.
IV. LUẬT
TƯ PHÁP NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
1. Luật
Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 17 Luật Tư pháp người chưa thành niên
(sau đây gọi là Luật TPNCTN) đã được Quốc hội Khóa XV, tại Kỳ họp thứ 8 thông
qua ngày 30/11/2024, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2026. Nội dung cơ bản
của Luật đã được thể hiện tại tài liệu Hội nghị tập huấn Luật Tư pháp người
chưa thành niên (Tháng 3/2025), cụ thể:
1.1. Về
những quy định chung (Phần thứ nhất)
1.1.1.
Phạm vi điều chỉnh (Điều 1) Luật Tư pháp người chưa thành niên quy định về: (1)
Xử lý chuyển hướng, hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội; (2) Thủ tục
tố tụng đối với người chưa thành niên là người bị tố giác, người bị kiến nghị
khởi tố, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội, bị hại, người
làm chứng; (3) Thi hành án phạt tù, tái hòa nhập cộng đồng đối với người chưa
thành niên; (4) Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá
nhân, gia đình trong hoạt động tư pháp người chưa thành niên.
1.1.2.
Áp dụng Luật Tư pháp người chưa thành niên và các luật có liên quan (Điều 2) Điều
2 Luật Tư pháp người chưa thành niên quy định: việc tiếp nhận, giải quyết nguồn
tin về tội phạm, khởi tố, giải quyết vụ án hình sự, xử lý chuyển hướng, thi
hành án phạt tù, tái hòa nhập cộng đồng đối với người chưa thành niên được áp dụng
theo quy định của Luật này và theo quy định của Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng
hình sự, Luật Thi hành án hình sự, luật khác không trái với quy định của Luật
này.
1.1.3.
Các nguyên tắc cơ bản Luật Tư pháp người chưa thành niên quy định 16 nguyên tắc
nhân văn, tiến bộ và đặc thù để bảo vệ người chưa thành niên trong tư pháp hình
sự, gồm: (1) Bảo đảm lợi ích tốt nhất; (2) Bảo đảm thủ tục tố tụng thân thiện;
(3) Đối xử bình đẳng; (4) Quyền được thông tin đầy đủ¸ kịp thời; (5) Bảo đảm
quyền có người đại diện; (6) Giải quyết nhanh chóng, kịp thời; (7) Ưu tiên áp dụng
xử lý chuyển hướng; (8) Áp dụng hình phạt; (9) Bảo đảm giữ bí mật cá nhân; (10)
Quyền bào chữa, quyền được trợ giúp pháp lý, phiên dịch; (11) Hạn chế tối đa việc
áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; (12) Chuyên môn hóa trong hoạt
động tư pháp người chưa thành niên; (13) Bảo đảm và tôn trọng quyền tham gia,
trình bày ý kiến; (14) Bảo đảm hiệu lực của quyết định áp dụng biện pháp xử lý
chuyển hướng; (15) Bảo đảm việc thi hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng
và thi hành án phạt tù phù hợp; (16) Bảo đảm việc tái hòa nhập cộng đồng.
1.1.4.
Quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp người
chưa thành niên (chương II) - Quy định về quyền và nghĩa vụ của người chưa
thành niên là người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong
trường hợp khẩn cấp, người 18 bị buộc tội, bị hại, người làm chứng, người chấp
hành biện pháp xử lý chuyển hướng, người chưa thành niên là phạm nhân.
- Quy định về Hội đồng quốc gia về tư pháp người
chưa thành niên và cơ quan thường trực của Hội đồng quốc gia về tư pháp người
chưa thành niên, cụ thể như sau:
+ Hội
đồng quốc gia về tư pháp người chưa thành niên do Thủ tướng Chính phủ thành lập.
Thành viên Hội đồng quốc gia về tư pháp người chưa thành niên do Thủ tướng
Chính phủ quyết định trên cơ sở đề nghị của cơ quan thường trực của Hội đồng. Hội
đồng quốc gia về tư pháp người chưa thành niên có các nhiệm vụ, quyền hạn sau
đây:
a) Chỉ
đạo, đôn đốc các bộ, ngành để giải quyết các vấn đề về tư pháp người chưa thành
niên;
b) Đề
xuất phương hướng, giải pháp để thực hiện các vấn đề liên quan đến tư pháp người
chưa thành niên;
c) Phối
hợp với các cơ quan của Quốc hội, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân
dân tối cao, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận,
các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp trong việc thực hiện hoạt động
tư pháp người chưa thành niên; d) Chỉ đạo, đôn đốc các bộ, ngành báo cáo Quốc hội
về kết quả thực hiện nhiệm vụ liên quan đến tư pháp người chưa thành niên trong
báo cáo công tác hằng năm;
đ) Chỉ
đạo, đôn đốc hoạt động công tác xã hội về tư pháp người chưa thành niên; chỉ đạo
tổ chức việc công bố danh sách người làm công tác xã hội trong hoạt động tư
pháp người chưa thành niên, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho người
làm công tác xã hội trong hoạt động tư pháp người chưa thành niên;
e) Chỉ
đạo công tác thống kê, thông tin, báo cáo về hoạt động tư pháp người chưa thành
niên;
g) Thực
hiện nhiệm vụ khác theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ và cơ quan có thẩm quyền.
+ Cơ
quan thường trực của Hội đồng quốc gia về tư pháp người chưa thành niên là Bộ
Công an. Cơ quan thường trực có các nhiệm vụ, quyền hạn:
a)
Giúp Hội đồng quốc gia về tư pháp người chưa thành niên tổ chức triển khai thực
hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng;
b) Định
kỳ hằng năm báo cáo Chính phủ về hoạt động của Hội đồng;
c) Nhiệm
vụ, quyền hạn khác theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có
liên quan.
- Quy
định về trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận; gia đình, người làm
công tác xã hội và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác trong hoạt động tư pháp người
chưa thành niên.
1.2. Về
xử lý chuyển hướng đối với người chưa thành niên phạm tội (Phần thứ hai Luật)
1.2.1.
Quy định mục đích, nguyên tắc áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng 19
- Mục
đích áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng:
+ Xử
lý kịp thời và hiệu quả đối với người chưa thành niên.
+ Giúp
người chưa thành niên thay đổi nhận thức, nhận biết, sửa chữa sai lầm đã gây
ra, tự rèn luyện khắc phục, ngăn ngừa nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội và
giáo dục họ trở thành công dân có ích cho xã hội.
+ Đẩy
mạnh việc hòa giải giữa người chưa thành niên và bị hại bị ảnh hưởng bởi hành
vi phạm tội của người chưa thành niên.
+ Nâng
cao trách nhiệm của gia đình và cộng đồng tham gia trực tiếp vào hoạt động xử
lý chuyển hướng.
+ Hạn
chế tác động tiêu cực của thủ tục tố tụng hình sự đối với người chưa thành
niên.
+ Ngăn
ngừa người chưa thành niên phạm tội mới, tạo điều kiện tái hòa nhập cộng đồng.
-
Nguyên tắc áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng:
+ Việc
áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng phải căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm
của hành vi phạm tội; khả năng giáo dục, phục hồi của người chưa thành niên phạm
tội và sự an toàn của bị hại, cộng đồng.
+ Việc
lựa chọn biện pháp xử lý chuyển hướng áp dụng đối với người chưa thành niên phạm
tội phải phù hợp với hoàn cảnh, độ tuổi, đặc điểm tâm sinh lý của họ.
+ Người
chưa thành niên phạm tội có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp xử lý chuyển
hướng tại cộng đồng. Biện pháp xử lý chuyển hướng quy định tại các khoản 6, 7,
8, 9, 10 và 11 Điều 36 của Luật Tư pháp người chưa thành niên phải áp dụng đồng
thời với một hoặc nhiều biện pháp xử lý chuyển hướng quy định tại các khoản 1,
2, 3, 4 và 5 Điều 36 của Luật Tư pháp người chưa thành niên. Trường hợp người
chưa thành niên phạm tội bị áp dụng nhiều biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng
đồng khác nhau nhưng cùng phải thực hiện nghĩa vụ quy định tại các điểm b, c, d
và đ khoản 2 Điều 23 của Luật Tư pháp người chưa thành niên thì thời gian thực
hiện nghĩa vụ không vượt quá mức thời hạn cao nhất quy định đối với biện pháp
được áp dụng.
+
Không áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng đồng thời với các biện
pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng.
+
Không áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng nếu tại thời điểm xem xét người phạm
tội đã đủ 18 tuổi.
1.2.2.
Bổ sung nhiều biện pháp xử lý chuyển hướng mới, phù hợp với 20 người chưa thành
niên (Điều 36) Quy định quy định 12 biện pháp xử lý chuyển hướng, gồm: (1) Khiển
trách. (2) Xin lỗi bị hại. (3) Bồi thường thiệt hại. (4) Giáo dục tại xã, phường,
đặc khu. (5) Quản thúc tại gia đình. (6) Hạn chế khung giờ đi lại. (7) Cấm tiếp
xúc với người có nguy cơ dẫn đến người chưa thành niên phạm tội mới. (8) Cấm đến
địa điểm có nguy cơ dẫn đến người chưa thành niên phạm tội mới. (9) Tham gia
chương trình học tập, dạy nghề. (10) Tham gia điều trị hoặc tư vấn tâm lý. (11)
Thực hiện công việc phục vụ cộng đồng. (12) Giáo dục tại trường giáo dưỡng.
1.2.3.
Quy định chặt chẽ căn cứ áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng Quy định người
chưa thành niên thuộc một trong các trường hợp tại Điều 37 thì có thể được áp dụng
biện pháp xử lý chuyển hướng khi có đủ các điều kiện sau đây: (1) Có chứng cứ
xác định người chưa thành niên đã thực hiện hành vi phạm tội; (2) Người chưa
thành niên thừa nhận mình đã thực hiện hành vi phạm tội; (3) Người chưa thành
niên đồng ý bằng văn bản về việc xử lý chuyển hướng. Bên cạnh đó, Luật còn quy
định các trường hợp không được áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng tại Điều
38, gồm: (1) Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thuộc một
trong các trường hợp sau đây, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 37 của
Luật Tư pháp người chưa thành niên: a) Phạm tội rất nghiêm trọng về một trong
các tội phạm sau đây: Tội giết người, Tội hiếp dâm, Tội hiếp dâm người dưới 16
tuổi, Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, Tội sản xuất trái
phép chất ma túy; b) Phạm tội rất nghiêm trọng 02 lần trở lên hoặc phạm nhiều tội
rất nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật Hình sự; c) Phạm tội đặc biệt nghiêm
trọng theo quy định của Bộ luật Hình sự; (2) Người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi
đến dưới 18 tuổi thuộc một trong các trường hợp sau đây, trừ trường hợp quy định
tại khoản 3 Điều 37 của Luật Tư pháp người chưa thành niên: a) Phạm tội nghiêm
trọng về một trong các tội phạm sau đây: Tội hiếp dâm, Tội sản xuất trái phép
chất ma túy, Tội tàng trữ trái phép chất ma túy, Tội mua bán trái phép chất ma
túy, Tội vận chuyển trái phép chất ma túy, Tội chiếm đoạt chất ma túy; b) Tái
phạm, tái phạm nguy hiểm; c) Phạm tội nghiêm trọng do cố ý 02 lần trở lên hoặc
phạm nhiều tội nghiêm trọng do cố ý theo quy định của Bộ luật Hình sự; d) Phạm
tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng theo quy định
của Bộ luật Hình sự; (3) Người chưa thành niên đã được áp dụng biện pháp xử lý
chuyển hướng mà phạm tội mới.
1.2.4.
Quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục xử lý chuyển hướng theo 21 hướng nhanh
chóng, kịp thời, hiệu quả (chương IV) - Thẩm quyền áp dụng biện pháp xử lý chuyển
hướng: cả 03 cơ quan tiến hành tố tụng đều có thẩm quyền áp dụng biện pháp xử
lý chuyển hướng.
+ Thủ
trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm
sát có thẩm quyền áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng, trừ trường
hợp vụ án có yêu cầu giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại hoặc phải giải quyết
vấn đề tịch thu tài sản.
+ Thẩm
phán, Hội đồng xét xử có thẩm quyền áp dụng tất cả các biện pháp xử lý chuyển
hướng. Bên cạnh đó, Tòa án có thẩm quyền áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng nếu
vụ án có yêu cầu về bồi thường thiệt hại hoặc phải tịch thu tài sản theo đề nghị
của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát.
-
Trình tự, thủ tục xử lý chuyển hướng Luật quy định 02 thủ tục xem xét, quyết định
áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng gồm: (1) Thủ tục xem xét, quyết định áp dụng
biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng (mục 2 chương IV) và (2) Thủ tục xem
xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng giáo dục tại trường giáo
dưỡng (mục 3 chương IV). Cụ thể:
+ Ngay
sau khi khởi tố bị can là người chưa thành niên, Cơ quan điều tra phải có văn bản
yêu cầu người làm công tác xã hội tham gia tố tụng và xây dựng báo điều tra xã
hội về người chưa thành niên (Điều 53);
+
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Cơ quan điều tra nhận được báo cáo điều tra
xã hội; trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày Viện kiểm sát nhận được hồ sơ vụ án
và bản kết luận điều tra đề nghị truy tố, Tòa án nhận được hồ sơ vụ án và bản
cáo trạng thì Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện
trưởng Viện kiểm sát hoặc Thẩm phán phải căn cứ vào quy định tại các điều 35,
37, 38 và 39 của Luật Tư pháp người chưa thành niên để ra thông báo áp dụng hoặc
không áp dụng thủ tục xử lý chuyển hướng (Điều 55). Nếu xét thấy người chưa
thành niên thuộc trường hợp được áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng
đồng thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có văn bản yêu cầu người làm
công tác xã hội xây dựng kế hoạch xử lý chuyển hướng. Nếu xét thấy người chưa
thành niên thuộc trường hợp được áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng
thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có văn bản, kèm theo hồ sơ vụ án đề nghị
Tòa án xem xét, quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng. Trường
hợp tự xét thấy người chưa thành niên thuộc trường hợp áp dụng biện pháp giáo dục
tại trường giáo dưỡng thì Tòa án xem xét, quyết định áp dụng 22 biện pháp giáo
dục tại trường giáo dưỡng;
+
Trong quá trình áp dụng thủ tục xử lý chuyển hướng, nếu vụ án có yêu cầu về bồi
thường thiệt hại hoặc phải giải quyết vấn đề tịch thu tài sản thì Cơ quan điều
tra, Viện kiểm sát có văn bản, kèm theo hồ sơ vụ án đề nghị Tòa án xem xét, quyết
định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng và giải quyết vấn đề bồi thường thiệt
hại hoặc tịch thu tài sản;
+ Việc
xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng phải được thực hiện
thông qua phiên họp để bảo đảm chặt chẽ, hiệu quả. - Quy định về việc khiếu nại,
kiến nghị và giải quyết khiếu nại, kiến nghị đối với quyết định áp dụng hoặc
không áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng (mục 4 chương IV).
1.2.5.
Quy định thủ tục thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng
(chương V)
- Quy
định 02 thủ tục thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng, gồm:
(1) Thủ tục thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng;
+ Ủy
ban nhân dân cấp xã nơi người chấp hành biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng
cư trú có trách nhiệm tổ chức thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển
hướng; phân công người trực tiếp giám sát thi hành quyết định áp dụng biện pháp
xử lý chuyển hướng; + Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày phân công người
trực tiếp giám sát thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng, Chủ
tịch Ủy ban nhân dân cấp xã triệu tập người chấp hành biện pháp xử lý chuyển hướng
tại cộng đồng; mời người đại diện của người đó, người trực tiếp giám sát thi
hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng, Công an cấp xã và đại diện
cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để thông báo về việc thi hành quyết định
áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng.
+
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định phân công, người
trực tiếp giám sát thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng xây
dựng dự thảo kế hoạch thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng
để Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã phê duyệt. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể
từ ngày nhận được dự thảo kế hoạch thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý
chuyển hướng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã phê duyệt kế hoạch. (2) Thủ tục
thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng giáo dục tại trường
giáo dưỡng. 23
+
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định áp dụng biện
pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh
nơi người chưa thành niên cư trú phải báo cáo cơ quan quản lý thi hành án hình
sự thuộc Bộ Công an để ra quyết định đưa người chưa thành niên vào trường giáo
dưỡng. + Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo của cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan quản lý thi hành án hình sự
thuộc Bộ Công an ra quyết định đưa người chưa thành niên vào trường giáo dưỡng
và gửi cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh.
+
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định của cơ quan quản
lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
tỉnh phải lập hồ sơ và bàn giao người chưa thành niên vào trường giáo dưỡng.
+ Khi
tiếp nhận học sinh, Hiệu trưởng trường giáo dưỡng phải kiểm tra hồ sơ và lập
biên bản giao nhận, tổ chức khám sức khỏe cho học sinh. Trong thời hạn 05 ngày
làm việc kể từ ngày tiếp nhận học sinh, Hiệu trưởng trường giáo dưỡng phải
thông báo việc đã tiếp nhận học sinh cho người đại diện của người đó.
- Quy
định về việc chấm dứt trước thời hạn việc chấp hành biện pháp xử lý chuyển hướng
trong trường hợp người chấp hành biện pháp xử lý chuyển hướng đã chấp hành được
một phần hai thời hạn áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng và có nhiều tiến bộ
nhằm khích lệ họ tích cực rèn luyện bản thân và nâng cao hiệu quả áp dụng biện
pháp xử lý chuyển hướng.
- Để bảo
đảm nghiêm minh, cũng như nâng cao hiệu quả giáo dục người chưa thành niên, Luật
quy định chế tài xử lý vi phạm nghĩa vụ trong quá trình chấp hành biện pháp xử
lý chuyển hướng tại cộng đồng, cụ thể như sau: Người chấp hành biện pháp xử lý
chuyển hướng tại cộng đồng mà cố ý vi phạm nghĩa vụ 01 lần trong thời gian thực
hiện nghĩa vụ thì có thể bị gia hạn thời hạn thực hiện nghĩa vụ; Người chấp
hành biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng mà cố ý vi phạm nghĩa vụ 01 lần
trong thời gian gia hạn thực hiện nghĩa vụ hoặc cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở
lên trong thời gian thực hiện nghĩa vụ thì có thể bị thay đổi từ biện pháp xử
lý chuyển hướng tại cộng đồng sang biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng.
1.3. Về
hình phạt (chương VI Phần thứ ba) Luật Tư pháp người chưa thành niên đã cải
cách chính sách hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên theo hướng nhân
văn, tiến bộ hơn, cụ thể như sau:
- Giữ
nguyên hệ thống hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội như Bộ luật
Hình sự hiện hành gồm: cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ và tù có thời
hạn. Không áp dụng hình phạt tù chung thân và tử hình đối với người 24 chưa
thành niên.
- Bổ
sung điều luật về hình phạt cảnh cáo đối với người chưa thành niên khi phạm tội
ít nghiêm trọng, nghiêm trọng do vô ý và có tình tiết giảm nhẹ, nhưng chưa đến
mức miễn hình phạt.
- Mở rộng
đối tượng người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, nếu có tài sản
riêng cũng có thể áp dụng hình phạt tiền và mức tiền phạt không quá một phần ba
mức tiền phạt mà điều luật quy định. - Giảm mức hình phạt cao nhất đối với người
từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi từ 18 năm xuống 15 năm tù, người từ đủ 14 tuổi đến
dưới 16 tuổi phạm tội từ 12 năm xuống 09 năm tù, trừ trường hợp phạm 058 loại tội
xâm phạm tính mạng sức khỏe và ma túy thì mức hình phạt theo quy định của pháp
luật hiện hành để đề cao tính nhân văn nhưng vẫn bảo đảm nghiêm minh của chính
sách hình phạt đối với người chưa thành niên.
- Giảm
thời gian thử thách khi được hưởng án treo xuống không quá 03 năm; giảm thời hạn
được xóa án tích đối với người chưa thành niên so với quy định của Bộ luật Hình
sự.
1.4. Về
thủ tục tố tụng thân thiện (chương VII và chương VIII Phần thứ ba)
1.4.1.
Xây dựng thủ tục tố tụng riêng biệt phù hợp với người chưa thành niên Luật Tư
pháp người chưa thành niên quy định 02 thủ tục tố tụng riêng biệt đối với người
chưa thành niên: (1) Thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên là người bị
tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp,
người bị buộc tội; (2) Thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên là bị hại,
người làm chứng.
1.4.2.
Quy định các biện pháp ngăn chặn, cưỡng chế đối với người chưa thành niên bị buộc
tội (mục II chương VII) Luật Tư pháp người chưa thành niên quy định 10 biện
pháp ngăn chặn gồm: giữ người trong trường hợp khẩn cấp; bắt người theo các trường
hợp quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự; tạm giữ; tạm giam; giám sát điện tử;
giám sát tại nhà; bảo lĩnh; đặt tiền để bảo đảm; cấm đi khỏi nơi cư trú; tạm
hoãn xuất cảnh. Quy định 03 biện pháp cưỡng chế gồm: áp giải, dẫn giải; kê biên
tài sản; phong tỏa tài khoản. Trong đó, 02 biện pháp ngăn chặn mới là giám sát
điện tử và giám sát tại nhà. Thu hẹp các trường hợp người chưa thành niên bị áp
dụng biện pháp tạm giam và quy định rõ ràng, cụ thể căn cứ áp dụng biện pháp tạm
giam, theo đó, người chưa thành niên chỉ bị áp dụng biện pháp tạm giam trong
trường hợp thật 8 (1) Tội giết người; (2) Tội hiếp dâm; (3) Tội hiếp dâm người
dưới 16 tuổi; (4) Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi; (5) Tội sản
xuất trái phép chất ma túy 25 cần thiết và khi các biện pháp ngăn chặn khác
không hiệu quả.
1.4.3.
Quy định về tố tụng thân thiện trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố - Mọi
hoạt động tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án
có người chưa thành niên là người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người
bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội phải được tiến hành trong
môi trường thuận lợi cho việc bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, bí mật cá
nhân, danh dự, nhân phẩm, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của họ.
-
Trong vụ án hình sự có bị can là người chưa thành niên và người thành niên thì
Cơ quan điều tra tách vụ án hình sự để giải quyết vụ án độc lập đối với bị can
là người chưa thành niên. - Thời hạn điều tra, thời hạn quyết định việc truy tố,
thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm đối với vụ
án có người chưa thành niên là người bị buộc tội không quá một phần hai thời hạn
tương ứng được quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. - Người chưa thành niên phải
có người bào chữa trong mọi trường hợp, kể cả trường hợp họ từ chối người bào
chữa. - Việc lấy lời khai, khám xét người, đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng
nói người chưa thành niên phải bảo đảm thân thiện, phù hợp với tâm lý, lứa tuổi
và phải có sự tham gia của người đại diện, người bào chữa, người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp. - Các thông tin có liên quan đến hành vi phạm tội của người
chưa thành niên phải được giữ kín, không cung cấp công khai. - Thủ tục tố tụng
được tiến hành bởi Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán đã được đào tạo, bồi
dưỡng kỹ năng giải quyết các vụ án liên quan đến người chưa thành niên; có kinh
nghiệm điều tra, truy tố, xét xử các vụ án liên quan đến người chưa thành niên
hoặc đã được đào tạo, bồi dưỡng về tâm lý học và khoa học giáo dục người chưa
thành niên.
1.4.4.
Quy định về thủ tục xét xử thân thiện (mục IV chương VII) - Việc xét xử vụ án
hình sự có người chưa thành niên là người bị buộc tội do Tòa gia đình và người
chưa thành niên giải quyết. Đối với Tòa án chưa tổ chức Tòa gia đình và người
chưa thành niên thì việc xét xử vụ án hình sự có người chưa thành niên là người
bị buộc tội do Thẩm phán quy định tại khoản 1 Điều 29 của Luật Tư pháp người
chưa thành niên thực hiện. - Vụ án hình sự về người chưa thành niên được xét xử
trong phòng xử án thân thiện. - Phiên tòa phải được tổ chức xét xử thân thiện:
Thẩm phán Chủ tọa phiên 26 tòa mặc trang phục hành chính của Tòa án; Kiểm sát
viên mặc trang phục phù hợp, không mặc trang phục Kiểm sát nhân dân. Khi xét xử
không còng tay hoặc áp dụng các biện pháp mang tính cưỡng chế khác, trừ trường
hợp người chưa thành niên có biểu hiện chống đối, gây mất trật tự tại phiên tòa
hoặc hành động tiêu cực khác; Việc xét hỏi, tranh luận đối với người chưa thành
niên tại phiên tòa được tiến hành phù hợp với lứa tuổi, giới tính, khả năng nhận
thức và mức độ trưởng thành của họ. Câu hỏi cần ngắn gọn, đơn giản, dễ hiểu,
không hỏi nhiều vấn đề cùng một lúc…
-
Trong trường hợp đặc biệt cần bảo vệ người chưa thành niên, Tòa án có thể xét xử
kín nhưng phải tuyên công khai phần quyết định của bản án. Khi tuyên án, Hội đồng
xét xử đọc phần quyết định trong bản án.
1.4.5.
Quy định thủ tục tố tụng thân thiện đối với người chưa thành niên là bị hại,
người làm chứng (chương VIII) Luật Tư pháp người chưa thành niên quy định: Việc
tiến hành tố tụng đối với người chưa thành niên là bị hại, người làm chứng phải
được tiến hành trong môi trường thuận lợi cho việc bảo đảm an toàn về tính mạng,
sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản, bí mật cá nhân, các quyền và lợi ích hợp
pháp khác của họ. Hạn chế đến mức thấp nhất số lần tiếp xúc giữa người chưa
thành niên là bị hại, người làm chứng với người bị tố giác, người bị kiến nghị
khởi tố, người bị buộc tội và không áp dụng biện pháp dẫn giải đối với người
chưa thành niên là bị hại, người làm chứng; việc lấy lời khai, đối chất, nhận dạng,
nhận biết giọng nói, thực nghiệm điều tra phải có mặt của người đại diện hoặc
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp; việc xem xét dấu vết trên thân thể của
người chưa thành niên là bị hại, người làm chứng phải có sự tham gia của người
đại diện của họ; Người chưa thành niên là bị hại có hoàn cảnh khó khăn được hỗ
trợ từ nguồn kinh phí của Quỹ Bảo trợ trẻ em… 1.5. Về thi hành án phạt tù và
tái hòa nhập cộng đồng (Phần thứ tư)
1.5.1.
Về thi hành án phạt tù (Chương IX) - Quy định người chưa thành niên thi hành án
phạt tù tại trại giam riêng, phân trại hoặc khu giam giữ dành riêng cho người
chưa thành niên là phạm nhân để có môi trường giáo dục, phục hồi tốt nhất. -
Cán bộ trại giam phải là người đã được đào tạo hoặc bồi dưỡng về tâm lý học,
khoa học giáo dục người chưa thành niên hoặc đã từng tham gia giải quyết các vụ
việc liên quan đến người chưa thành niên. - Bổ sung trường hợp được hoãn chấp
hành hình phạt tù đối với người chưa thành niên bị xử phạt tù đã đăng ký và đủ
điều kiện tham gia hoặc đang tham gia kỳ thi tốt nghiệp trung học cơ sở, trung
học phổ thông, thi tốt nghiệp trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, được cơ sở
giáo dục, cơ sở giáo dục nghề nghiệp nơi 27 người đó học tập xác nhận thì có thể
được hoãn cho đến khi thực hiện xong kỳ thi. - Quy định mở rộng phạm vi được
tha tù trước thời hạn. Ngay sau khi người chưa thành niên có đủ các điều kiện
được xét tha tù trước hạn có điều kiện thì phải lập hồ sơ đề nghị mà không cần
căn cứ theo đợt như Luật Thi hành án hình sự. - Người chưa thành niên là phạm
nhân chấp hành án phạt tù tốt, có tiến bộ thì được khen thưởng, nếu vi phạm thì
bị kỷ luật.
1.5.2.
Về tái hòa nhập cộng đồng (chương X) - Nghiêm cấm kỳ thị, phân biệt đối xử đối
với người chưa thành niên chấp hành xong biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng,
chấp hành xong án phạt tù. Doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân không được phân biệt
đối xử, kỳ thị khi tuyển dụng, sử dụng người lao động là người chưa thành niên
từ đủ 15 tuổi trở lên vì lý do trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại
trường giáo dưỡng, đã bị kết án phạt tù. - Quy định các nội dung hỗ trợ tái hòa
nhập cộng đồng đối với người chưa thành niên trong và sau khi chấp hành xong biện
pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, chấp hành xong án phạt tù, gồm: a) Chỉ định
người giúp đỡ người chưa thành niên tái hòa nhập cộng đồng từ những người sau
đây: người làm công tác xã hội, cộng tác viên công tác xã hội cấp xã, đại diện
Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh hoặc người
có uy tín trong cộng đồng dân cư có điều kiện, khả năng và kinh nghiệm trong
giáo dục, giúp đỡ người chưa thành niên; b) Kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện và
vận động nhân dân trong khu vực dân cư phối hợp chặt chẽ với gia đình trong việc
giúp đỡ người chưa thành niên tái hòa nhập cộng đồng; c) Trợ giúp về tâm lý, hỗ
trợ thủ tục pháp lý cần thiết cho người chưa thành niên; d) Tạo điều kiện thuận
lợi để người chưa thành niên tham gia các chương trình học tập, lao động, hướng
nghiệp, học nghề, phát triển kỹ năng sống; đ) Tuyên truyền, vận động nhân dân
và thực hiện các biện pháp khác để xóa bỏ định kiến, kỳ thị, phân biệt đối xử đối
với người chưa thành niên; e) Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các
cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, doanh nghiệp, cá
nhân tiếp nhận, giúp đỡ về học tập, lao động, hướng nghiệp, dạy nghề, tìm kiếm
việc làm cho người chưa thành niên. - Khi người chưa thành niên tái hòa nhập cộng
đồng thì được Ủy ban nhân dân cấp xã chỉ định người giúp đỡ người chưa thành
niên tái hòa nhập cộng đồng.
1.6. Về
điều khoản thi hành (Phần thứ năm) - Quy định việc sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một
số chương, điều của luật có 28 liên quan như Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật
Hình sự, Luật Thi hành án hình sự, Luật Thi hành án dân sự, Luật Trẻ em, Luật
Trợ giúp pháp lý và Luật Cư trú. - Luật Tư pháp người chưa thành niên có hiệu lực
thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2026, trừ các quy định tại Điều 139, khoản 1
và khoản 2 Điều 162 của Luật Tư pháp người chưa thành niên có hiệu lực thi hành
từ ngày 01 tháng 01 năm 2028.
- Quy
định chuyển tiếp:
+ Các
điều khoản của Luật Tư pháp người chưa thành niên quy định về hình phạt cảnh
cáo, phạt tiền, tù có thời hạn, quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị
phạm tội, phạm tội chưa đạt, giảm mức hình phạt đã tuyên, án treo, hoãn chấp
hành hình phạt tù, tha tù trước thời hạn có điều kiện, xóa án tích và các quy định
khác có lợi cho người phạm tội quy định tại chương VI của Luật Tư pháp người
chưa thành niên được áp dụng kể từ ngày Luật được công bố.
+ Trường
hợp người phạm tội đã bị kết án phạt tù trước ngày Luật Tư pháp người chưa
thành niên được công bố theo đúng các văn bản trước đây và bản án đã có hiệu lực
pháp luật nếu người phạm tội từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có mức hình phạt tù
cao hơn 09 năm và không thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 119, Điều
121 và Điều 122 của Luật Tư pháp người chưa thành niên hoặc người phạm tội từ đủ
16 tuổi đến dưới 18 tuổi có mức hình phạt tù cao hơn 15 năm và không thuộc trường
hợp quy định tại khoản 2 Điều 119, Điều 121 và Điều 122 của Luật Tư pháp người
chưa thành niên thì kể từ ngày Luật này được công bố giải quyết như sau: a) Trường
hợp họ đã chấp hành bằng hoặc quá mức hình phạt tù cao nhất quy định tại khoản
1 và khoản 3 Điều 119 của Luật này thì trại giam rà soát, có văn bản đề nghị
Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu nơi họ
đang chấp hành án quyết định miễn chấp hành phần hình phạt tù còn lại; b) Trường
hợp họ đã chấp hành được một phần hình phạt nhưng chưa đến mức hình phạt tù cao
nhất quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 119 của Luật Tư pháp người chưa thành
niên thì trại giam rà soát, có văn bản đề nghị Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh,
Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu nơi họ đang chấp hành án quyết định giảm mức
hình phạt tù đã tuyên xuống còn 09 năm đối với người phạm tội từ đủ 14 tuổi đến
dưới 16 tuổi hoặc 15 năm đối với người phạm tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi;
c) Trường hợp họ đang được hoãn chấp hành hình phạt tù thì cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu rà soát,
có văn bản đề nghị Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án quyết định giảm
mức hình phạt tù đã tuyên xuống còn 09 năm đối với người phạm tội từ đủ 14 tuổi
đến dưới 16 tuổi hoặc 15 năm đối với người phạm tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18
tuổi.
+ Trường
hợp người chưa thành niên bị xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo trước ngày Luật
này được công bố theo đúng các văn bản trước đây và bản án đã 29 có hiệu lực
pháp luật nếu họ có thời gian thử thách trên 03 năm thì kể từ ngày Luật này được
công bố giải quyết như sau: a) Trường hợp họ đã chấp hành thời gian thử thách bằng
hoặc quá 03 năm thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh có văn bản đề
nghị Chánh án Tòa án nhân dân khu vực, Chánh án Tòa án quân sự khu vực nơi họ
cư trú quyết định rút ngắn hết thời gian thử thách còn lại; b) Trường hợp họ đã
chấp hành được một phần thời gian thử thách nhưng chưa đến 03 năm thì cơ quan
thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh có văn bản đề nghị Chánh án Tòa án nhân
dân khu vực, Chánh án Tòa án quân sự khu vực nơi họ cư trú quyết định rút ngắn
thời gian thử thách xuống còn 03 năm.
2. Luật
Tư pháp người chưa thành niên (sửa đổi, bổ sung năm 2025) Ngày 25/6/2025, tại kỳ
họp thứ 9, khóa XV Quốc hội đã thông qua Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp
người chưa thành niên, Luật Pháp sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án. Luật
có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025, trong đó sửa đổi, bổ sung 28 điều của
Luật Tư pháp người chưa thành niên, cụ thể như sau:
2.1. Bổ
sung quy định cơ quan thi hành án cấp quân khu thi hành quyết định của Cơ quan
điều tra trong Quân đội nhân dân, Viện kiểm sát quân sự tại khoản 4 Điều 73 để
phù hợp với quy định của Luật Thi hành án dân sự.
2.2. Bổ
sung quy định Trưởng Công an cấp xã, Phó Trưởng Công an cấp xã có thẩm quyền áp
dụng biện pháp xử lý chuyển hướng và thủ tục tố tụng khác đối với người chưa
thành niên để bảo đảm giải quyết các vụ việc, vụ án có người chưa thành niên
tham gia nhanh chóng, kịp thời, đồng thời phù hợp với quy định của Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
2.3.
Các nội dung sửa đổi, bổ sung khác trong Luật này nhằm bảo đảm phù hợp, thống
nhất với cơ cấu, tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị được quy định tại các
văn bản luật khác như: Nghị quyết số 203/2025/QH15 ngày 16/6/2025 của Quốc hội
sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam; Luật Tổ chức chính quyền địa phương (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật
Hình sự.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét