Án lệ về tuyên bố hợp đồng dân sự vô hiệu trong trường hợp đương sự không có yêu cầu- MINH QUÂN

Thực tiễn xét xử cho thấy các Tòa án chưa thống nhất cách giải quyết trong trường hợp xét thấy hợp đồng dân sự vô hiệu thì Tòa án có quyền tuyên hợp đồng vô hiệu không khi các đương sự không có yêu cầu xem xét về vấn đề này?, cụ thể: 

  • Quan điểm thứ nhất cho rằng, đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, phản tố, yêu cầu độc lập; Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó. Do vậy, trường hợp đương sự không có yêu cầu xem xét hiệu lực của hợp đồng thì Tòa án không tuyên hợp đồng vô hiệu. Một số bản án đã được xét xử theo quan điểm này như: Bản án số 35/2020/DS-PT ngày 29/6/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng về “Tranh chấp hợp đồng thuê khoán tài sản, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”; Bản án số 77/2022/DSST ngày 23/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh B về “Tranh chấp hợp đồng mua bán căn hộ”. 
  • Quan điểm thứ hai cho rằng, khi có căn cứ xác định hợp đồng vô hiệu thì Tòa án phải tuyên bố hợp đồng vô hiệu mà không phụ thuộc vào việc đương sự có yêu cầu tuyên bố hợp đồng thế chấp vô hiệu hay không. 

Do đó, để áp dụng thống nhất pháp luật, việc có án lệ về vấn đề này là cần thiết. Tôi xin đề xuất Bản án dân sự phúc thẩm số 260/2015/DS-PT ngày 28-12-2015 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về vụ án dân sự “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng nhà, đất” tại thành phố Hà Nội giữa nguyên đơn là ông Mai Văn C với bị đơn là ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị Bích V. 

Theo đó, mặc dù các đương sự không có yêu cầu tuyên bố hợp đồng dân sự vô hiệu, nhưng để giải quyết triệt để vụ án, Tòa án đã tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Để giải quyết vụ án một cách chính xác và công bằng, Tòa án cần thiết phải xem xét hiệu lực của hợp đồng. Nếu hợp đồng hợp pháp thì Tòa án giải quyết yêu cầu đương sự theo quy định của pháp luật; trường hợp hợp đồng vô hiệu thì Tòa án tuyên hợp đồng vô hiệu dù đương sự không có yêu cầu. 

Bên cạnh đó, bản chất pháp luật quy định các trường hợp vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội hay vô hiệu do giả tạo không bị hạn chế về thời hiệu khởi kiện là bởi nhóm này không chỉ tập trung bảo vệ quyền lợi của chủ thể trong giao dịch mà còn bảo vệ lợi ích công nói chung. Việc công nhận các hợp đồng vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội… có thể tạo tiền lệ xấu, gây khó khăn cho công tác quản lý nhà nước vì bản thân các đương sự sẽ cho là dù làm sai luật họ vẫn được Tòa án bảo vệ. 

Ngoài ra, công nhận hợp đồng khi việc giao kết hợp đồng có vi phạm pháp luật có thể dẫn tới việc không thể thi hành án được. 

NỘI DUNG VỤ ÁN NHƯ SAU:>>>xem

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:>>>xem

QUYẾT ĐỊNH >>>xem

NỘI DUNG ÁN LỆ:  

  • “[14] Xét hợp đồng chuyển nhượng nhà đất ngày 4-12-1993 giữa vợ chồng ông Lê T, bà Kim Thị Hồng Đ với bà Trần Thị Bích Đ là hợp đồng giả tạo, che đậy hợp đồng thực tế là hợp đồng chuyển nhượng nhà đất giữa vợ chồng ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị Bích V với vợ chồng ông Lê T, bà Kim Thị Hồng Đ. Trong vụ án này, các đương sự không yêu cầu xem xét hợp đồng trên, nhưng để giải quyết triệt để vụ án, thấy cần thiết tuyên hủy hợp đồng chuyển nhượng nhà đất ngày 4-12-1993 giữa vợ chồng ông Lê T, bà Kim Thị Hồng Đ với bà Trần Thị Bích Đ.”


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét